Cảm Niệm Ân Sư

11/09/201512:57(Xem: 10715)
Cảm Niệm Ân Sư

CẢM NIỆM ÂN SƯ

Nam Mô A Di Đà Phật,

Kính bạch Giác linh Thầy,

Chúng con kính nghe : Cha mẹ sinh thân ngũ uẩn, Thầy Tổ tác thành giới thân tuệ mạng. Thân ngũ uẩn thì trôi lăn trong sinh tử, thân tuệ mạng thì vượt ngoài tử sinh. Ân đức ấy như trời cao biển rộng, suốt trăm ngàn kiếp không thể nào báo đáp được.

Hơn chín mươi năm trong cuộc thế, Thầy luôn tận tình tế độ, giáo dưỡng chúng con. Thầy lấy đức từ hóa độ quần mê, lấy bao dung đối nhân xử thế. Thầy lo cho chúng con khi trái nắng trở trời, dạy chúng con từng tế hạnh oai nghi. Chúng con chưa báo đáp được thâm ân giáo dưỡng mà thầy đã quẩy dép về Tây. Tuy biết cuộc đời là vô thường, nhân sinh là gỉa tạm nhưng chúng con không cầm được nước mắt khi traí tim nhân hậu, bao dung của Thầy ngừng đập.

Những tưởng chúng con được đón Thầy về quê xưa để sớm hôm thường định tỉnh nhưng nào ngờ đất khách thầy ra đi để đất thảm trời sầu.

Thế là Tổ đình Kim Liên chỉ còn lưu dấu tích của đồng tử khi xưa còn Thầy thì mãi mãi ra đi như dòng sông không bao giờ trở lại để tháp chín tầng nơi Quốc tự Việt Nam vẫn tháng năm ngóng trông bước chân bậc Viện trưởng.

Tổ đình vẫn còn đó nhưng hình bóng Thầy đâu rồi? Biết lấy ai dạy  Bước Đầu Học Phật? Từ Quang vẫn còn đây nhưng tôn dung Thầy không còn nữa, biết hỏi ai bài Thiền Lâm Bảo Huấn? Để từ đây thiền thất sớm chiều chìm trong sương không sắc, phương bào ngày tháng lạnh theo gía sắc không.

Mới  tháng trước Thầy còn nắm chặt tay con ân cần dạy bảo nhưng bây giờ Thầy đã buông nhẹ hai tay, xả bỏ tất cả, Thầy đã xả bỏ tất cả vinh nhục, thăng trầm, buồn vui, được mất trong chín mươi lăm năm của cảnh trầm luân thế nhân để trở về quê hương tịnh cảnh có gió thổi là vi diệu pháp, có chim kêu là đạo nhiệm mầu.

Trước phút giây ngàn thu vĩnh biệt này, chúng con cúi đầu kính lạy Thầy ba lạy : Lạy thứ nhất thâm tạ công ân tác thành giới thân tuệ mạng, lạy thứ hai tri ân giáo dưỡng nên người, lạy thứ ba xin vĩnh biệt Thầy . Xin Thầy từ bi chứng giám.


NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI ĐỆ LỤC THẾ, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ, TỪ QUANG TỔ ĐÌNH KHAI SƠN, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI,  PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG BỔN SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.

                                                                   

  Canada , 24/08/2015

                                                                                        Pháp tử Giác Dũng

                                                                                        Khấp bái

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2012(Xem: 12491)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 25047)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8516)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9785)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18232)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17966)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10988)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25064)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9033)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12350)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.