Cuộc đời và hành trạng

22/08/201509:15(Xem: 11394)
Cuộc đời và hành trạng


HT Thich Tam Chau


Cuộc đời và Hành trạng
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu
(95 thế tuế. 74 Hạ Lạp)
 
Kẻ hèn này lòng chân thành đã viết:
Ngài Trí Quang, bậc đại sĩ thượng thừa
Ngài Thiện Minh, cõi trần thế đủ chưa
Ngài Huyền Quang, kế nghiệp ba đời Tăng Thống
Đức Đệ Nhất, thượng Tịnh hạ Khiết
Đức Đệ Nhị, thượng Giác hạ Nhiên
Đức Đệ Tam, Đôn Hậu tịch biên
Và đã viết:
Bồ Tát Quảng Đức, hiện thân cứu đạo
Thánh Tử Tăng Ni, nung lửa lò cừ
Phật Tử Tín đồ, chấn động thái hư
Hoa sen nở ngát bùn lầy quện cáu
Một kiếp nhân sinh ba vạn sáu
Những tưởng rằng đằng đẵng trăm năm
Thấm vào đâu thượng báo hạ hoằng
Lòng nung nấu bản hoài tâm nguyện
Nếu không viết
Cuộc đời và hành trạng Hòa Thượng Thích Tâm Châu
95 năm đại thọ, tròn thế kỷ cơ cầu
74 năm Hạ Lạp, viên dung vô quái ngại
Thì thà không có đôi tay cầm bút
Không có cái đầu hướng đạo tư duy
Không có tấm lòng chắt lọc nghĩ suy
Sống phơi cát bụi trơ trơ sỏi đá
Xin chắp tay, ngưỡng vọng Giác Linh Ngài Thượng Thủ
Xin chân thành, hướng về Kim Bảo Đài Từ Quang
Nghe kệ kinh chuông mõ trầm bỗng ngân vang
Tiễn Ngài đi trên đường về Phật độ
Cuộc đời Ngài đâu cần ghi để nhớ
Hành trạng Ngài đâu cần khắc để lưu
Một ngôi sao gắn trên cánh Vô Ưu
Vốn miên viễn mọi không thời rạng chiếu
Đất Ninh Bình sản sinh bậc kiệt xuất
Năm 1954, bỏ Bắc vào Nam
Di cư ư, không phải, bởi không chấp nhận sắc đỏ thiết ngàm
Năm 1963, vô minh ập phủ Đạo Vàng
Chịu chết ư, dễ gì, Phật Giáo sống thì Dân Tộc mới sống
Những cái câu đẹp như sơn son thiếp lộng:
"Dân Tộc còn thì Phật Giáo còn"
"Phật Giáo còn thì Dân Tộc còn"
2000 năm lịch sử Phật Giáo, vàng ngọc không hơn
5000 năm lịch sử Dân Tộc, kim ngân không sánh
Dân Tộc và Đạo Pháp, tương lân để sống
Đạo Pháp và Dân Tộc, thấm nhuận thăng hoa
Hễ ngược lại là suy vong biến thái
Ngài và những bậc thượng thừa thuở ấy
Ngồi trên lửa nhưng vẫn bình chân như vại
Ngồi trong cùm nhưng xiềng xích vỡ toang
Cả thế giới đều ngưỡng phục kinh hoàng
Cả nhân loại đều giật mình rúng động
Tôi muốn nhắc cộc mốc này
Để Phật Giáo Việt Nam hôm nay và ngày mai phải biết
Nếu 63 mà đã bị chết tiêu ma
Nếu 63 mà bị hủy diệt Ta Bà
Thì quý vị không còn đâu mà đẩy đưa nhân ngã
Và tôi xin nhắc
Lê Long Đĩnh kê lên đầu róc mía
Nào đáng gì so với Pháp Nạn 63
Bởi Long Đĩnh hôn quân mượn thú tiêu pha
Còn 63 là cả âm mưu sách lược tiêu diệt Phật Giáo
Thế thì 75, chuyện gì kia chứ?
Ố ồ cộc mốc, cả nước đỏ au
Vận mệnh Dân Tộc, nói nữa chi đau
Vận mệnh Tổ Quốc, nói sao cho hết
40 năm, nát con tàu thống thiết
40 năm, nát con tàu trầm kha
Niềm đau sỉ nhục đến Tổ Tiên lịch sử Ông Cha
Và di họa đến cả những đàn em thế hệ
Ngài Tâm Châu ơi
Sao trong lúc ngưỡng vọng Giác Linh Ngài kính lễ
Mà lại viết những lời khó xúc động bi thương
Bởi Ngài nói:
"Cả cuộc đời tôi phụng sự cho Quê hương
"Cả cuộc đời tôi dấn thân cho Đạo Pháp
"Tôi đã hơn 90 rồi mà ông còn thôi thúc
"Tôi từng nói hễ mỗi lần qua Úc
"Phải dành thời giờ để ghé thăm
"Để gặp và ngưỡng mộ MG"
Ngài ơi, chết con rồi, muôn ngàn lần không dám
Và chính Ngài đã gởi những tác phẩm biếu tặng
Nào thơ văn, nào những CD diễn ngâm
Của bậc siêu tuyệt thượng túc uyên thâm
Nhạn quá trường không, thái hư lưu tích
Kính tiễn Ngài đi, về thăm Phật quốc
Ta Bà kham nhẫn, hồi nhập độ sinh
Vì Tam đồ Lục đạo, dù khổ quên mình
Vì nhân gian trần thế, dù đau nào thấm
Mượn tấm thân ngũ ấm
Vào sinh tử rong chơi
Mang ánh đạo cứu đời
Bản hoài hoằng thệ nguyện.
 
Úc Châu sáng ngày 22-8-2015
Tiểu tăng Thích Nhật Tân
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/06/2012(Xem: 18005)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17722)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10586)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 24616)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 8910)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12024)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9003)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 23996)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 12868)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8324)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.