Quyển 93: Phẩm Cầu Bát-Nhã 5

07/07/201516:43(Xem: 20071)
Quyển 93: Phẩm Cầu Bát-Nhã 5

Tập 02
Quyển 93
Phẩm Cầu Bát-Nhã 5
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí

 

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của bốn tịnh lự chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của tám giải thoát cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của tám giải thoát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của bốn niệm trụ chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp môn giải thoát không chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của sáu phép thần thông chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sáu phép thần thông cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của năm loại mắt chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của sáu phép thần thông cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa mười lực của Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của mười lực Phật chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tánh luôn luôn xả cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp không quên mất chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tánh luôn luôn xả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của trí nhất thiết chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Dự-lưu chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác hướng, Độc-giác quả cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Tam-miệu-tam Phật-đà cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp của đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của pháp đại Bồ-tát chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của quả vị giác ngộ cao tột cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với chơn như của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với pháp tánh của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với chơn như của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với chơn như của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với pháp tánh của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với pháp tánh của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Như Lai đối với sự lìa Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa chơn như của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Chơn như của Như Lai đối với sự lìa chơn như của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa chơn như của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng. Pháp tánh của Như Lai đối với sự lìa pháp tánh của Thanh-văn thừa chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; đối với sự lìa pháp tánh của Độc-giác thừa, Vô-thượng thừa cũng chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng.

Kiều Thi Ca! Những điều mà Tôn giả Xá Lợi Tử đã nói là đối với tất cả pháp, chẳng phải ly, chẳng phải tức, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, đó là  thần lực của Như Lai, Như Lai là chỗ nương, vì lấy cái không chỗ nương làm chỗ nương.

 

Quyển thứ 93

Hết

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8906)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8825)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8631)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8446)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7987)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13012)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22020)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26801)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9332)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10406)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.