Quyển 66: Phẩm Vô Sở Đắc 6

07/07/201511:51(Xem: 19702)
Quyển 66: Phẩm Vô Sở Đắc 6

Kinh Dai Bat Nha- HT Thich Tri Nghiem_2_c

Tập 02
Quyển 66
Phẩm Vô Sở Đắc 6

Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí
 

 

Xá Lợi Tử! Vì tánh của pháp bậc phàm phu là không, nên pháp bậc phàm phu đối với pháp bậc phàm phu không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu đối với pháp bậc chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc chủng tánh là không, nên pháp bậc chủng tánh đối với pháp bậc chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc chủng tánh đối với pháp bậc phàm phu không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh đối với pháp bậc Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Đệ bát là không, nên pháp bậc Đệ bát đối với pháp bậc Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Đệ bát đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát đối với pháp bậc Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Cụ kiến là không, nên pháp bậc Cụ kiến đối với pháp bậc Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Cụ kiến đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến đối với pháp bậc Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Bạc là không, nên pháp bậc Bạc đối với pháp bậc Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Bạc đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc đối với pháp bậc Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Ly dục là không, nên pháp bậc Ly dục đối với pháp bậc Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Ly dục đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục đối với pháp bậc Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Dĩ biện là không, nên pháp bậc Dĩ biện đối với pháp bậc Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Dĩ biện đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện đối với pháp bậc Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Độc-giác là không, nên pháp bậc Độc-giác đối với pháp bậc Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Độc-giác đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác đối với pháp bậc Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Bồ-tát là không, nên pháp bậc Bồ-tát đối với pháp bậc Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Bồ-tát đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác, Bồ-tát đối với pháp bậc Như lai không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp bậc Như lai là không, nên pháp bậc Như lai đối với pháp bậc Như lai không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp bậc Như lai đối với pháp bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác, Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Đối với các pháp như vậy, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát, cũng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tự tánh là không.

Xá Lợi Tử! Vì tánh của bậc phàm phu là không, nên bậc phàm phu đối với bậc phàm phu không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu đối với bậc chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc chủng tánh là không, nên bậc chủng tánh đối với bậc chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc chủng tánh đối với bậc phàm phu không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh đối với bậc Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Đệ bát là không, nên bậc Đệ bát đối với bậc Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Đệ bát đối với bậc phàm phu, chủng tánh không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát đối với bậc Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Cụ kiến là không, nên bậc Cụ kiến đối với bậc Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Cụ kiến đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến đối với bậc Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Bạc là không, nên bậc Bạc đối với bậc Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Bạc đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc đối với bậc Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Ly dục là không, nên bậc Ly dục đối với bậc Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Ly dục đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục đối với bậc Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Dĩ biện là không, nên bậc Dĩ biện đối với bậc Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Dĩ biện đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện đối với bậc Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Độc-giác là không, nên bậc Độc-giác đối với bậc Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Độc-giác đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác đối với bậc Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Bồ-tát là không, nên bậc Bồ-tát đối với bậc Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Bồ-tát đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác, Bồ-tát đối với bậc Như lai không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của bậc Như lai là không, nên bậc Như lai đối với bậc Như lai không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; bậc Như lai đối với bậc phàm phu, chủng tánh, Đệ bát, Cụ kiến, Bạc, Ly dục, Dĩ biện, Độc-giác, Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Đối với các pháp như vậy, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát, cũng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tự tánh là không.

Xá Lợi Tử! Vì tánh của pháp Dự-lưu hướng là không, nên pháp Dự-lưu hướng đối với pháp Dự-lưu hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng đối với pháp Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Dự-lưu quả là không, nên pháp Dự-lưu quả đối với pháp Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu quả đối với pháp Dự-lưu hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng, pháp Dự-lưu quả đối với pháp Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Nhất-lai hướng là không, nên pháp Nhất-lai hướng đối với pháp Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Nhất-lai hướng đối với pháp Dự-lưu hướng, pháp Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Nhất-lai hướng đối với pháp Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Nhất-lai quả là không, nên pháp Nhất-lai quả đối với pháp Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Nhất-lai quả đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Nhất-lai quả đối với pháp Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Bất-hoàn hướng là không, nên pháp Bất-hoàn hướng đối với pháp Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Bất-hoàn hướng đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Bất-hoàn hướng đối với pháp Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Bất-hoàn quả là không, nên pháp Bất-hoàn quả đối với pháp Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Bất-hoàn quả đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Bất-hoàn quả đối với pháp A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp A-la-hán hướng là không, nên pháp A-la-hán hướng đối với pháp A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp A-la-hán hướng đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp A-la-hán hướng đối với pháp A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp A-la-hán quả là không, nên pháp A-la-hán quả đối với pháp A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp A-la-hán quả đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp A-la-hán quả đối với pháp Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Độc-giác hướng là không, nên pháp Độc-giác hướng đối với pháp Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Độc-giác hướng đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Độc-giác hướng đối với pháp Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Độc-giác quả là không, nên pháp Độc-giác quả đối với pháp Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Độc-giác quả đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Độc-giác quả đối với pháp đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp đại Bồ-tát là không, nên pháp đại Bồ-tát đối với pháp đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp đại Bồ-tát đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp đại Bồ-tát đối với pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác là không, nên pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác đối với pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác đối với pháp Dự-lưu hướng cho đến pháp đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Đối với các pháp như vậy, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát, cũng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tự tánh là không.

Xá Lợi Tử! Vì tánh của Dự-lưu hướng là không, nên Dự-lưu hướng đối với Dự-lưu hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng đối với Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Dự-lưu quả là không, nên Dự-lưu quả đối với Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu quả đối với Dự-lưu hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả đối với Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Nhất-lai hướng là không, nên Nhất-lai hướng đối với Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Nhất-lai hướng đối với Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến Nhất-lai hướng đối với Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Nhất-lai quả là không, nên Nhất-lai quả đối với Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Nhất-lai quả đối với Dự-lưu hướng cho đến Nhất-lai hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Dự-lưu hướng cho đến Nhất-lai quả đối với Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Bất-hoàn hướng là không, nên Bất-hoàn hướng đối với Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Bất-hoàn hướng đối với Dự-lưu hướng cho đến Nhất-lai quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến Bất-hoàn hướng đối với Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Bất-hoàn quả là không, nên Bất-hoàn quả đối với Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Bất-hoàn quả đối với Dự-lưu hướng cho đến Bất-hoàn hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến Bất-hoàn quả đối với A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của A-la-hán hướng là không, nên A-la-hán hướng đối với A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; A-la-hán hướng đối với Dự-lưu hướng cho đến Bất-hoàn quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến A-la-hán hướng đối với A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của A-la-hán quả là không, nên A-la-hán quả đối với A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; A-la-hán quả đối với Dự-lưu hướng cho đến A-la-hán hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến A-la-hán quả đối với Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Độc-giác hướng là không, nên Độc-giác hướng đối với Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Độc-giác hướng đối với Dự-lưu hướng cho đến A-la-hán quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến Độc-giác hướng đối với Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Độc-giác quả là không, nên Độc-giác quả đối với Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Độc-giác quả đối với Dự-lưu hướng cho đến Độc-giác hướng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến Độc-giác quả đối với đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của đại Bồ-tát là không, nên đại Bồ-tát đối với đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; đại Bồ-tát đối với Dự-lưu hướng cho đến Độc-giác quả không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Dự-lưu hướng cho đến đại Bồ-tát đối với Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác là không, nên Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác đối với Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác đối với Dự-lưu hướng cho đến đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Đối với các pháp như vậy, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát, cũng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tự tánh là không.

Xá Lợi Tử! Vì tánh của đại Bồ-tát là không, nên đại Bồ-tát đối với đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; đại Bồ-tát đối với Bát-nhã-ba-la-mật-đa không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của Bát-nhã-ba-la-mật-đa là không, nên Bát-nhã-ba-la-mật-đa đối với Bát-nhã-ba-la-mật-đa không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; Bát-nhã-ba-la-mật-đa đối với đại Bồ-tát không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; đại Bồ-tát, Bát-nhã-ba-la-mật-đa đối với sự dạy bảo, trao truyền cho không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tánh của sự dạy bảo, trao truyền cho là không, nên sự dạy bảo, trao truyền cho đối với sự dạy bảo, trao truyền không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; sự dạy bảo, trao truyền đối với đại Bồ-tát, Bát-nhã-ba-la-mật-đa không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Đối với các pháp như vậy, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát, cũng không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tự tánh là không.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đối với tất cả pháp, tôi dùng tất cả phương tiện, tất cả nơi chốn, tất cả thời gian để cầu đại Bồ-tát nhưng hoàn toàn không thấy và rốt ráo chẳng thể nắm bắt được, thì tại sao lại khiến tôi dùng Bát-nhã-ba-la-mật-đa để dạy bảo, trao truyền cho các đại Bồ-tát?

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại đáp lời Xá Lợi Tử: Như Tôn giả đã hỏi là vì duyên cớ gì mà đại Bồ-tát chỉ có giả danh? Xá Lợi Tử! Vì danh đại Bồ-tát chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp.

Khi ấy Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện: Vì duyên cớ gì mà nói là danh đại Bồ-tát chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp?

Thiện Hiện đáp: Như danh của tất cả pháp chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ đâu; trong tất cả pháp không có danh, trong danh không có tất cả pháp, chẳng phải hợp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì tất cả pháp cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc tất cả pháp, hoặc là danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được, nên danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp. Ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu, trong đại Bồ-tát không có danh, trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hợp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh sắc, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong sắc không có danh, trong danh không có sắc, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì sắc cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc sắc, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh thọ, tưởng, hành, thức, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong thọ, tưởng, hành, thức không có danh, trong danh không có thọ, tưởng, hành, thức, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc thọ, tưởng, hành, thức, hoặc là danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh nhãn xứ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong nhãn xứ không có danh, trong danh không có nhãn xứ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì nhãn xứ cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc nhãn xứ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không có danh, trong danh không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh sắc xứ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong sắc xứ không có danh, trong danh không có sắc xứ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì sắc xứ cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc sắc xứ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở trong mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không có danh, trong danh không có thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, ở đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh nhãn giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong nhãn giới không có danh, trong danh không có nhãn giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì nhãn giới cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc nhãn giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không có danh, trong danh không có sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh nhĩ giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong nhĩ giới không có danh, trong danh không có nhĩ giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì nhĩ giới cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc nhĩ giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu; trong thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không có danh, trong danh không có thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không; trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh tỷ giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong tỷ giới không có danh, trong danh không có tỷ giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì tỷ giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc tỷ giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không có danh; trong danh không có hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh thiệt giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong thiệt giới không có danh, trong danh không có thiệt giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thiệt giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc thiệt giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không có danh. Trong danh không có vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh thân giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong thân giới không có danh, trong danh không có thân giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thân giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc thân giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không có danh, trong danh không có xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh ý giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong ý giới không có danh, trong danh không có ý giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì ý giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc ý giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không có danh, trong danh không có pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh địa giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong địa giới không có danh; trong danh không có địa giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì địa giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc địa giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong thủy, hỏa, phong, không, thức giới không có danh; trong danh không có thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc thủy, hỏa, phong, không, thức giới, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh Thánh đế khổ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong Thánh đế khổ không có danh, trong danh không có Thánh đế khổ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì Thánh đế khổ cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc Thánh đế khổ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh Thánh đế tập, diệt, đạo, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong Thánh đế tập, diệt, đạo không có danh; trong danh không có Thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì Thánh đế tập, diệt, đạo cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc Thánh đế tập, diệt, đạo, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh vô minh, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong vô minh không có danh; trong danh không có vô minh, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì vô minh cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc vô minh, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chỉ là cái bên ngoài được thu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không có danh, trong danh không có hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh bốn tịnh lự, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong bốn tịnh lự không có danh; trong danh không có bốn tịnh lự, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì bốn tịnh lự cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc bốn tịnh lự, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong bốn vô lượng, bốn định vô sắc không có danh; trong danh không có bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì bốn vô lượng, bốn định vô sắc cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc bốn vô lượng, bốn định vô sắc, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh tám giải thoát, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong tám giải thoát không có danh; trong danh không có tám giải thoát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì tám giải thoát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc tám giải thoát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ không có danh; trong danh không có tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

Xá Lợi Tử! Như cái danh bốn niệm trụ, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong bốn niệm trụ không có danh; trong danh không có bốn niệm trụ, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì bốn niệm trụ cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc bốn niệm trụ, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Như cái danh bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo không có danh. Trong danh không có bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Cái danh đại Bồ-tát cũng lại như vậy, chỉ là cái bên ngoài được thâu nhiếp, đối với mười phương, ba đời, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không trụ ở đâu. Trong đại Bồ-tát không có danh; trong danh không có đại Bồ-tát, chẳng phải hiệp, chẳng phải ly, chỉ giả bày ra. Vì sao? Vì đại Bồ-tát cùng với danh, tự tánh đều là không. Trong cái không của tự tánh, hoặc đại Bồ-tát, hoặc danh, đều không sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Xá Lợi Tử! Do duyên cớ này, nên tôi nói là đại Bồ-tát chỉ có giả danh.

 

Quyển thứ 66

Hết

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8906)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8826)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8632)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8446)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7987)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13012)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22021)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26805)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9333)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10407)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.