Quyển 56: Phẩm Biện Đại-Thừa 6, Phẩm Tán Đại-Thừa 1

07/07/201511:25(Xem: 21648)
Quyển 56: Phẩm Biện Đại-Thừa 6, Phẩm Tán Đại-Thừa 1

Tập 02
Quyển 56
Phẩm Biện Đại-Thừa 6
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí

 

 

 

Thiện Hiện! Nên biết, địa giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thủy, hỏa, phong, không, thức giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Thánh đế khổ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Thánh đế tập, diệt, đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô minh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự huyễn không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cảnh mộng, ảnh tượng, tiếng vang, bóng sáng, hoa đốm giữa hư không, sóng nắng, ảo thành, việc biến hóa, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, cái không nội không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn tịnh lự không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn vô lượng, bốn định vô sắc không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn niệm trụ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, pháp môn giải thoát không không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, năm loại mắt không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, sáu phép thần thông không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, mười lực của Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Dự-lưu sanh vào đường ác không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần, bậc Bất-hoàn sanh vào cõi Dục, đại Bồ-tát sanh ra để tự lợi, A-la-hán, Độc-giác, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, khoảng trước, khoảng giữa và khoảng sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự vãng lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự đi đứng không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự tăng giảm không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Cực hỷ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Tịnh quán không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự thành thục hữu tình không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự nghiêm tịnh cõi Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Pháp nào, chẳng thể nắm bắt được, nên nói là ngã v.v..., chẳng thể nắm bắt được?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tánh ngã, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ngã chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái thấy, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái thấy, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ngã cho đến tánh cái thấy chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh chơn như, chẳng thể nắm bắt được, nên nói chơn như, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thật tế, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thật tế, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh chơn như, cho đến tánh thật tế, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc cho đến tánh thức, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh ý xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn xứ cho đến tánh ý xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc xứ cho đến tánh pháp xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn giới cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhĩ giới cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tỷ giới cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thiệt giới cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thân giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thân giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thân giới cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh ý giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ý giới cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh địa giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói địa giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức giới, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh địa giới cho đến tánh thức giới, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Thánh đế khổ cho đến tánh Thánh đế đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô minh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô minh, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được, nên nói lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô minh cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sự huyễn cho đến tánh sự biến hóa, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh cái không nội cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí Ba-la-mật-đa, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự cho đến tánh bốn định vô sắc chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ cho đến tánh tám chi thánh đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được; tánh sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được nên nói sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, tánh sáu phép thần thông chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, cho đến tánh trí nhất thiết tướng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Như lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Như lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến tánh Như lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được, nên nói danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh khoảng đầu, giữa, sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vãng lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vãng lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vãng lai, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh đi đứng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói đi đứng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh đi đứng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tử sanh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tử sanh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tử sanh chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tăng giảm chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ cho đến tánh bậc Pháp vân chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán  cho đến tánh bậc Như Lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cho đến Bồ-tát, Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến Bồ-tát Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ  cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thành thục hữu tình trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh nghiêm tịnh cõi Phật trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Như vậy, Thiện Hiện! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, tuy quán tất cả pháp đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được, rốt ráo thanh tịnh, nên không nương vào Đại-thừa mà xuất hiện và đi đến, nhưng lấy vô sở đắc làm phương tiện, nương vào Đại-thừa ra khỏi sanh tử ba cõi, đến trí nhất thiết trí, lợi ích, an ổn tất cả hữu tình, đến tận cùng đời vị lai, thường không dừng nghỉ.

 

Tập 02
Quyển 56,
Phẩm Tán Đại-Thừa 1

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nói Đại-thừa, Đại-thừa ấy là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian. Đại-thừa như vậy ngang bằng với hư không. Thí như hư không có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Lại như hư không, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, Đại-thừa cũng vậy, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy. Lại như hư không, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, ba đời bình đẳng, nên gọi là Đại-thừa.

Phật bảo: Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói, Bồ-tát Đại-thừa đầy đủ vô biên công đức như vậy.

Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là cái không nội, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh v.v…

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là Tam-ma-địa Kiện hành cho đến Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không v.v... vô lượng trăm ngàn Pháp môn Tam-ma-địa.

         Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là ba Tam-ma-địa cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là pháp môn văn tự Đà-la-ni … tất cả pháp môn Đà-la-ni.

Thiện Hiện! Nên biết, vô lượng, vô biên công đức thù thắng như vậy, đều là Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ông nói Đại-thừa là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian? Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Nếu dục giới là chơn như chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì dục giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc và Vô sắc giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc và Vô sắc giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thọ, tưởng, hành, thức là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu tỷ giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì tỷ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thiệt giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thiệt giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thân giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thân giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu ý giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì ý giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu địa giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì địa giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thủy, hỏa, phong, không, thức giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vô minh là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vô minh chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

 

Quyển thứ 56

Hết

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8906)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8825)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8631)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8446)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7987)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13012)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22020)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26801)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9332)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10406)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.