Quyển 58: Phẩm Tán Đại-Thừa 3

07/07/201511:30(Xem: 20515)
Quyển 58: Phẩm Tán Đại-Thừa 3

Tập 02
Quyển 58
Phẩm Tán Đại-Thừa 3
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí


 

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên cái không nội cũng không có sở hữu. Vì cái không nội không có sở hữu, nên cái không ngoại cũng không có sở hữu. Vì cái không ngoại không có sở hữu, nên cái không nội ngoại cũng không có sở hữu. Vì cái không nội ngoại không có sở hữu, nên cái không không cũng không có sở hữu. Vì cái không không không có sở hữu, nên cái không lớn cũng không có sở hữu. Vì cái không lớn không có sở hữu, nên cái không thắng nghĩa cũng không có sở hữu. Vì cái không thắng nghĩa không có sở hữu, nên cái không hữu vi cũng không có sở hữu. Vì cái không hữu vi không có sở hữu, nên cái không vô vi cũng không có sở hữu. Vì cái không vô vi không có sở hữu, nên cái không rốt ráo cũng không có sở hữu. Vì cái không rốt ráo không có sở hữu, nên cái không không biên giới cũng không có sở hữu. Vì cái không không biên giới không có sở hữu, nên cái không tản mạn cũng không có sở hữu. Vì cái không tản mạn không có sở hữu, nên cái không không đổi khác cũng không có sở hữu. Vì cái không không đổi khác không có sở hữu, nên cái không bổn tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không bổn tánh không có sở hữu, nên cái không tự tướng cũng không có sở hữu. Vì cái không tự tướng không có sở hữu, nên cái không cộng tướng cũng không có sở hữu. Vì cái không cộng tướng không có sở hữu, nên cái không tất cả pháp cũng không có sở hữu. Vì cái không tất cả pháp không có sở hữu, nên cái không chẳng thể nắm bắt được cũng không có sở hữu. Vì cái không chẳng thể nắm bắt được không có sở hữu, nên cái không không tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không không tánh không có sở hữu, nên cái không tự tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không tự tánh không có sở hữu, nên cái không không tánh tự tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không không tánh tự tánh không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc cái không nội cho đến cái không không tánh tự tánh, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bố thí Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tịnh giới Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tịnh giới Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên an nhẫn Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì an nhẫn Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tinh tấn Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tinh tấn Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tịnh lự Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tịnh lự Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên Bát-nhã-ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì Bát-nhã-ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bốn tịnh lự cũng không có sở hữu. Vì bốn tịnh lự không có sở hữu, nên bốn vô lượng cũng không có sở hữu. Vì bốn vô lượng không có sở hữu, nên bốn định vô sắc cũng không có sở hữu. Vì bốn định vô sắc không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bốn niệm trụ cũng không có sở hữu. Vì bốn niệm trụ không có sở hữu, nên bốn chánh đoạn cũng không có sở hữu. Vì bốn chánh đoạn không có sở hữu, nên bốn thần túc cũng không có sở hữu. Vì bốn thần túc không có sở hữu, nên năm căn cũng không có sở hữu. Vì năm căn không có sở hữu, nên năm lực cũng không có sở hữu. Vì năm lực không có sở hữu, nên bảy chi đẳng giác cũng không có sở hữu. Vì bảy chi đẳng giác không có sở hữu, nên tám chi thánh đạo cũng không có sở hữu. Vì tám chi thánh đạo không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên pháp môn giải thoát không cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát không không có sở hữu, nên pháp môn giải thoát vô tướng cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát vô tướng không có sở hữu, nên pháp môn giải thoát vô nguyện cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát vô nguyện không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên năm loại mắt cũng không có sở hữu. Vì năm loại mắt không có sở hữu, nên sáu phép thần thông cũng không có sở hữu. Vì sáu phép thần thông không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc năm loại mắt, hoặc sáu phép thần thông, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên mười lực của Phật cũng không có sở hữu. Vì mười lực của Phật không có sở hữu, nên bốn điều không sợ cũng không có sở hữu. Vì bốn điều không sợ không có sở hữu, nên bốn sự hiểu biết thông suốt cũng không có sở hữu. Vì bốn sự hiểu biết thông suốt không có sở hữu, nên đại từ cũng không có sở hữu. Vì đại từ không có sở hữu, nên đại bi cũng không có sở hữu. Vì đại bi không có sở hữu, nên đại hỷ cũng không có sở hữu. Vì đại hỷ không có sở hữu, nên đại xả cũng không có sở hữu. Vì đại xả không có sở hữu, nên mười tám pháp Phật bất cộng cũng không có sở hữu. Vì mười tám pháp Phật bất cộng không có sở hữu, nên trí nhất thiết cũng không có sở hữu. Vì trí nhất thiết không có sở hữu, nên trí đạo tướng cũng không có sở hữu. Vì trí đạo tướng không có sở hữu, nên trí nhất thiết tướng cũng không có sở hữu. Vì trí nhất thiết tướng không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bậc Cực hỷ cũng không có sở hữu. Vì bậc Cực hỷ không có sở hữu, nên bậc Ly cấu cũng không có sở hữu. Vì bậc Ly cấu không có sở hữu, nên bậc Phát quang cũng không có sở hữu. Vì bậc Phát quang không có sở hữu, nên bậc Diệm tuệ cũng không có sở hữu. Vì bậc Diệm tuệ không có sở hữu, nên bậc Cực nan thắng cũng không có sở hữu. Vì bậc Cực nan thắng không có sở hữu, nên bậc Hiện tiền cũng không có sở hữu. Vì bậc Hiện tiền không có sở hữu, nên bậc Viễn hành cũng không có sở hữu. Vì bậc Viễn hành không có sở hữu, nên bậc Bất động cũng không có sở hữu. Vì bậc Bất động không có sở hữu, nên bậc Thiện tuệ cũng không có sở hữu. Vì bậc Thiện tuệ địa không có sở hữu, nên bậc Pháp vân cũng không có sở hữu. Vì bậc Pháp vân không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bậc Tịnh quán cũng không có sở hữu. Vì bậc Tịnh quán không có sở hữu, nên bậc Chủng tánh cũng không có sở hữu. Vì bậc Chủng tánh không có sở hữu, nên bậc Đệ bát cũng không có sở hữu. Vì bậc Đệ bát không có sở hữu, nên bậc Cụ kiến cũng không có sở hữu. Vì bậc Cụ kiến không có sở hữu, nên bậc Bạc cũng không có sở hữu. Vì bậc Bạc không có sở hữu, nên bậc Ly dục cũng không có sở hữu. Vì bậc Ly dục không có sở hữu, nên bậc Dĩ biện cũng không có sở hữu. Vì bậc Dĩ biện không có sở hữu, nên bậc Độc-giác cũng không có sở hữu. Vì bậc Độc-giác không có sở hữu, nên bậc Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì bậc Bồ-tát không có sở hữu, nên bậc Như lai cũng không có sở hữu. Vì bậc Như lai không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bậc Tịnh quán cho đến bậc Như lai, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Dự-lưu hướng cũng không có sở hữu. Vì Dự-lưu hướng không có sở hữu, nên Dự-lưu quả cũng không có sở hữu. Vì Dự-lưu quả không có sở hữu, nên Nhất-lai hướng cũng không có sở hữu. Vì Nhất-lai hướng không có sở hữu, nên Nhất-lai quả cũng không có sở hữu. Vì Nhất-lai quả không có sở hữu, nên Bất-hoàn hướng cũng không có sở hữu. Vì Bất-hoàn hướng không có sở hữu, nên Bất-hoàn quả cũng không có sở hữu. Vì Bất-hoàn quả không có sở hữu, nên A-la-hán hướng cũng không có sở hữu. Vì A-la-hán hướng không có sở hữu, nên A-la-hán quả cũng không có sở hữu. Vì A-la-hán quả không có sở hữu, nên Độc-giác hướng cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác hướng không có sở hữu, nên Độc-giác quả cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác quả không có sở hữu, nên pháp đại Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì pháp đại Bồ-tát không có sở hữu, nên pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác cũng không có sở hữu. Vì pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Dự-lưu hướng cho đến pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của A-la-hán hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của A-la-hán hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của A-la-hán quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của A-la-hán quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác quả không có sở hữu, nên đại Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì đại Bồ-tát không có sở hữu, nên Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác cũng không có sở hữu. Vì Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng cho đến Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Thanh-văn thừa cũng không có sở hữu. Vì Thanh-văn thừa không có sở hữu, nên Độc-giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác thừa không có sở hữu, nên Chánh đẳng giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Chánh đẳng giác thừa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Thanh-văn thừa, Độc-giác thừa, Chánh đẳng giác thừa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác thừa không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Chánh Đẳng giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Chánh Đẳng Giác thừa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa, Độc-giác thừa, Chánh đẳng giác thừa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Nên biết, như cảnh giới Niết-bàn có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

Thiện Hiện! Do nhân duyên này, cho nên nói: Thí như hư không có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi nói, lại như hư không, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, Đại-thừa cũng vậy, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy? Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tất cả pháp không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Vì tất cả pháp hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thân giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của thân giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của xúc giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của thân giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của xúc giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của thân giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của xúc giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thân giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của xúc giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thân giới, xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ý giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của ý giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của pháp giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của ý giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của pháp giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của ý giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của pháp giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của ý giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của pháp giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ý giới, pháp giới, và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Địa giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thủy, hỏa, phong, không, thức giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của địa giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của địa giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thủy, hỏa, phong, không, thức giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của địa giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của địa giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của thủy, hỏa, phong, không, thức giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì địa, thủy, hỏa, phong, không, thức giới và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thánh đế khổ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; Thánh đế tập, diệt, đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của Thánh đế khổ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của Thánh đế tập, diệt, đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của Thánh đế khổ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của Thánh đế tập, diệt, đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của Thánh đế khổ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của Thánh đế tập, diệt, đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của Thánh đế khổ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của Thánh đế tập, diệt, đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vô minh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của vô minh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của vô minh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của vô minh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của vô minh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Chơn như không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới hư không, cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, pháp định, pháp trụ, bổn vô, thật tế không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của chơn như không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của pháp giới cho đến thật tế không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của chơn như không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của pháp giới cho đến thật tế không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của chơn như không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của pháp giới cho đến thật tế không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của chơn như không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của pháp giới cho đến thật tế không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì chơn như cho đến thật tế và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Cái không nội không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của cái không nội không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của cái không nội không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của cái không nội không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của cái không nội không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì cái không nội cho đến cái không không tánh tự tánh và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bố thí Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của bố thí Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của bố thí Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của bố thí Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của bố thí Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bốn tịnh lự không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bốn vô lượng, bốn định vô sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của bốn tịnh lự không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của bốn tịnh lự không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của bốn vô lượng, bốn định vô sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của bốn tịnh lự không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của bốn tịnh lự không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của bốn vô lượng, bốn định vô sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bốn niệm trụ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của bốn niệm trụ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của bốn niệm trụ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của bốn niệm trụ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của bốn niệm trụ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

 

Quyển thứ 58

Hết

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18094)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8615)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8783)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9735)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11517)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13118)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24291)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10353)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8682)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8601)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.