Quyển 56: Phẩm Biện Đại-Thừa 6, Phẩm Tán Đại-Thừa 1

07/07/201511:25(Xem: 21809)
Quyển 56: Phẩm Biện Đại-Thừa 6, Phẩm Tán Đại-Thừa 1

Tập 02
Quyển 56
Phẩm Biện Đại-Thừa 6
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí

 

 

 

Thiện Hiện! Nên biết, địa giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thủy, hỏa, phong, không, thức giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Thánh đế khổ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Thánh đế tập, diệt, đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô minh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự huyễn không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cảnh mộng, ảnh tượng, tiếng vang, bóng sáng, hoa đốm giữa hư không, sóng nắng, ảo thành, việc biến hóa, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, cái không nội không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn tịnh lự không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn vô lượng, bốn định vô sắc không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn niệm trụ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, pháp môn giải thoát không không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, năm loại mắt không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, sáu phép thần thông không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, mười lực của Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Dự-lưu sanh vào đường ác không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần, bậc Bất-hoàn sanh vào cõi Dục, đại Bồ-tát sanh ra để tự lợi, A-la-hán, Độc-giác, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, khoảng trước, khoảng giữa và khoảng sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự vãng lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự đi đứng không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự tăng giảm không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Cực hỷ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Tịnh quán không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự thành thục hữu tình không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự nghiêm tịnh cõi Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Pháp nào, chẳng thể nắm bắt được, nên nói là ngã v.v..., chẳng thể nắm bắt được?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tánh ngã, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ngã chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái thấy, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái thấy, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ngã cho đến tánh cái thấy chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh chơn như, chẳng thể nắm bắt được, nên nói chơn như, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thật tế, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thật tế, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh chơn như, cho đến tánh thật tế, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc cho đến tánh thức, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh ý xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn xứ cho đến tánh ý xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc xứ cho đến tánh pháp xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn giới cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhĩ giới cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tỷ giới cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thiệt giới cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thân giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thân giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thân giới cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh ý giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ý giới cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh địa giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói địa giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức giới, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh địa giới cho đến tánh thức giới, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Thánh đế khổ cho đến tánh Thánh đế đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô minh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô minh, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được, nên nói lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô minh cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sự huyễn cho đến tánh sự biến hóa, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh cái không nội cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí Ba-la-mật-đa, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự cho đến tánh bốn định vô sắc chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ cho đến tánh tám chi thánh đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được; tánh sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được nên nói sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, tánh sáu phép thần thông chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, cho đến tánh trí nhất thiết tướng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Như lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Như lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến tánh Như lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được, nên nói danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh khoảng đầu, giữa, sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vãng lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vãng lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vãng lai, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh đi đứng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói đi đứng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh đi đứng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tử sanh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tử sanh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tử sanh chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tăng giảm chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ cho đến tánh bậc Pháp vân chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán  cho đến tánh bậc Như Lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cho đến Bồ-tát, Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến Bồ-tát Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ  cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thành thục hữu tình trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh nghiêm tịnh cõi Phật trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Như vậy, Thiện Hiện! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, tuy quán tất cả pháp đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được, rốt ráo thanh tịnh, nên không nương vào Đại-thừa mà xuất hiện và đi đến, nhưng lấy vô sở đắc làm phương tiện, nương vào Đại-thừa ra khỏi sanh tử ba cõi, đến trí nhất thiết trí, lợi ích, an ổn tất cả hữu tình, đến tận cùng đời vị lai, thường không dừng nghỉ.

 

Tập 02
Quyển 56,
Phẩm Tán Đại-Thừa 1

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nói Đại-thừa, Đại-thừa ấy là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian. Đại-thừa như vậy ngang bằng với hư không. Thí như hư không có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Lại như hư không, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, Đại-thừa cũng vậy, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy. Lại như hư không, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, ba đời bình đẳng, nên gọi là Đại-thừa.

Phật bảo: Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói, Bồ-tát Đại-thừa đầy đủ vô biên công đức như vậy.

Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là cái không nội, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh v.v…

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là Tam-ma-địa Kiện hành cho đến Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không v.v... vô lượng trăm ngàn Pháp môn Tam-ma-địa.

         Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là ba Tam-ma-địa cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là pháp môn văn tự Đà-la-ni … tất cả pháp môn Đà-la-ni.

Thiện Hiện! Nên biết, vô lượng, vô biên công đức thù thắng như vậy, đều là Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ông nói Đại-thừa là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian? Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Nếu dục giới là chơn như chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì dục giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc và Vô sắc giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc và Vô sắc giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thọ, tưởng, hành, thức là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu tỷ giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì tỷ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thiệt giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thiệt giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thân giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thân giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu ý giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì ý giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu địa giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì địa giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thủy, hỏa, phong, không, thức giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vô minh là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vô minh chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

 

Quyển thứ 56

Hết

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18104)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8621)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8787)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9738)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11517)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13119)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24311)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10355)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8683)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8607)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.