Điếu văn của GH Canada

10/02/201510:05(Xem: 19563)
Điếu văn của GH Canada

 

Điếu Văn Hòa Thượng Thích Minh Tâm

của Giáo Hội Phật Gíáo VNTN Hải Ngoại tại Canada

 

 

Trời Paris mây buồn giăng mắc

Chùa Khánh Anh Pháp Quốc đượm màu tang,

Phật sự chưa thành Thầy quẩy dép về Tây,

Đàn hậu bối chúng con thiếu người dìu dắt.

 

 

Kính bạch Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng, từ miền Canada xứ lạnh, Tăng Ni tín đồ Phật Tử trực thuộc GHPGVNTN hải ngoại tại Canada, vừa nhận được ai tín từ môn đồ Pháp quyến báo tin:

Hòa Thượng Thích Minh Tâm

Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu,

Viện Chủ Chùa Khánh Anh Paris Pháp Quốc

Sinh ngày 18 tháng 01 năm 1940

Vừa an nhiên thị tịch tại bệnh viện thuộc Tỉnh Turku, Phần Lan vào lúc 10:29 phút, giờ Phần Lan (9:29 phút giờ Pháp Quốc) ngày 8 tháng 8 năm 2013, nhằm ngày mồng hai tháng bảy năm Quý Tỵ.Thế thọ 75t uổi. Đạo Lạp 64 năm và 46 Tăng lạp. 

 

Ngài thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông Thiền Phái Liễu Quán đời thứ 44.

Bàng hoàng trước hung tin, Hội Đồng Điều Hành và Tăng Ni Phật Tử thuộc GHPGVNTN hải ngoại tại Canada chúng con, xin chân thành khấp điếu vọng hướng về Pháp Quốc Khánh Anh Già Lam tự viện, thành kính tưởng niệm một bậc thạc đức cao Tăng trong rừng Thiền của Phật Giáo hải ngoại, vừa chích lý Tây quy, chúng con hướng vọng trời Tây kính lời tưởng niệm:

Tưởng nhớ Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Minh hạ Tâm,

Tấm gương sáng trong cộng đồng Tăng Ni hải ngoại.

Suốt cuộc đời phát túc siêu phương, vượt bỏ phàm tình,

Mang tấm thân gầy, nhập hạnh Phổ Hiền, phân thân thị hiện.

Bất từ nan quyện, cùng khắp nơi nơi, xiển dương chánh pháp,

kiến lập đạo tràng, củng cố Tăng đoàn, khuyến tu hậu học.

Riêng bản thân Ngài: Khiêm cung độ lượng, kham khổ nuôi thân, sang trọng chẳng màng, phát khai huệ học. Khởi lòng lân mẫn, độ chúng, tiếp Tăng, đối xử cân bằng, hậu sanh bái phục. Trải lượng Từ Bi, kêu gọi nhân quyền, một dạ kiên cường, xiển dương bình đẳng.

Kết thân Pháp lữ, đạo bạn xa gần, trên khắp năm châu, người người quy ngưỡng.

Giáo Hội chúng con: Trên dưới một lòng, vọng hướng kim đài, thành kính chắp tay, cúi đầu khấp bái.

 

Tuy Ngài: Quẩy dép quy Tây, Âm dung thường tại .

Kính nguyện Giác Linh, phát quảng Bi tâm, hồi nhập Ta bà, phân thân hóa độ, lợi lạc quần sanh, tảo thành chánh giác

 

Thay mặt HĐĐH GHPGVNTN hải ngoại tại Canada

Chủ tịch HĐĐH

 

Tỳ Kheo Thích Bổn Đạt 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2012(Xem: 7769)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10475)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 8182)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.
07/09/2012(Xem: 9194)
Các bạn thân mến, Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí‎ tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.
07/09/2012(Xem: 9228)
Trước tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch, tôi xin thành kính có bài ghi lại kỷ niệm phước duyên được nghe ngài thuyết pháp. Đó là thời điểm những năm 1978, 1979… Vào lúc ấy, Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức thuyết pháp hàng tuần vào lúc 15h chiều chủ nhật tại trụ sở của Giáo hội là chùa Ấn Quang.
02/09/2012(Xem: 13307)
Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1918 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế...
29/08/2012(Xem: 8013)
Tôi muốn nói đến Sư Huynh Phổ Hòa, người anh lớn trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tức Huynh Trưởng HỒNG LIÊN Phan Cảnh Tuân khả kính của chúng ta.
23/08/2012(Xem: 11313)
Kính bạch Sắc tứ Thập Tháp Tổ đình, Tân tịch trụ trì Thích Kế Châu, Đại lão Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh. Hôm nay, chúng tôi là những Pháp huynh, Pháp đệ thuộc dòng pháp Chúc Thánh, Tổ đình thứ hai Quảng Nam, và dòng pháp Thiền Tôn, Tổ đình thứ ba – Huế, tại Bình Định, và cũng là con cháu tám, chín đời dòng pháp Thập Tháp – Tổ đình thứ nhất, thuộc dòng pháp Thiên đồng Trung quốc tại Việt nam. Giờ này, tất cả chúng tôi đã vân tập đông đủ trước linh đài trang nghiêm, đau buồn này để làm lễ tiễn đưa kim quan Cố Đại lão Hòa thượng vào “BẢO THÁP MẬT TÀNG”, nghìn thu an nghỉ. Kính bạch Tân tịch Đại lão Hòa thượng giác linh! Trước hết, tại nơi đây, tất cả chúng tôi: Chí thành đến trước linh tòa, Cung kính dâng lên pháp cúng Kinh diên tán tụng,
04/08/2012(Xem: 10567)
Hòa thượng Thích Duy Lực, pháp danh Duy Lực, pháp tự Giác Khai, nối pháp thiền phái Lâm Tế. Ngài thế danh La Dũ, sinh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923, nhằm Trung Hoa Dân quốc thứ 12, tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị. Ngài sinh trưởng trong một gia đình chuyên nghề nông trang, quy kính Tam bảo. Năm Mậu Dần 1938, Ngài được 16 tuổi, vừa học xong tiểu học thì phải lên đường theo cha sang Việt Nam sinh sống. Khi mới sang, gia đình Ngài dừng chân ở Cần Thơ lập nghiệp; trong những lúc rỗi rảnh Ngài thường tranh thủ tự học thên Hoa văn và quốc ngữ Việt Nam.