Hòa Thượng Thích Giác Trí

09/04/201319:11(Xem: 17715)
Hòa Thượng Thích Giác Trí

Đôi nét về 

Hòa Thượng Thích Giác Trí

HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.

Đại sư Huyền Giác 1881-1954 là trưởng tử của Pháp sư Phổ Huệ 1870-1931
http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/65danhtang02.html.


Pháp sư Phổ Huệ là vị Pháp sư thứ hai, đồng thời với Quốc sư Phước Huệ 1869-1945 chùa Thập Tháp
http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/64danhtang2.html, cùng được triều đình mời ra Huế để dạy Kinh cho Hoàng gia trong các đời vua Thành Thái, Khải Định, Bảo Đại.


htgiactri-2


HT Thích Giác Trí


Ngài Giác Trí thọ giới Sa Di tại Tổ đình Thiên Đức năm 1942 lúc 15 tuổi, tức là đồng đàn với HT Đỗng Minh 1927-2005 (được Bổn Sư là HT Huyền Tân 1911-1979 ở Phan Rang gởi ra thọ giới tại Tổ đình Thiên Đức). Giới đàn do Tổ Huệ Chiếu, Tâm Tịnh 1897-1970, làm Đàn Đầu.

Vì Ngài Huyền Giác viên tịch sớm nên HT Giác Trí được Bổn sư di chúc đến xin y chỉ với HT Tâm Tịnh - Huệ Chiếu (là sư ông của TQB) tại Tổ đình Thiên Đức http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/64danhtang4.html, và sau đó được Tổ Tâm Tịnh gởi đến tham học Kinh Luật Luận với sư huynh là HT Nguyên Lưu - Giác Tánh 1911-1987, (Bổn sư Phù Pháp của TQB) tại Phật học đường tại Tổ Đình Hưng Long, trong thời gian 9 năm Việt Minh 1945-1954.

Có hơn 50 Tăng Ni Bình Định và miền Trung đã được HT Giác Tánh (HT Giác Tánh là bạn đồng song ở Phật học đường Tây Thiên do Quốc sư Phước Huệ giảng dạy thời 1928-1935 với các HT: Trí Thủ 1909-1984, Đôn Hậu 1904-1992, Mật Hiển 1907-1985, Mật Nguyện 1911-1972, Phúc Hồ 1904-1986, Hành Trụ 1905-1986, Thiện Hòa 19??-1978, Huyền Tân 1911-1979, v.v...) đào tạo tại Tổ đình Hưng Long trong thời gian từ 1942 đến 1970 là năm HT Giác Tánh rời Hưng Long về nhận lãnh Trụ trì Tổ đình Thiên Đức sau khi Bổn sư viên tịch.

Ngài Giác Trí thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Hải Đức Nha Trang năm 1957, đồng đàn với HT Trừng San 1922-1991, và HT Như Huệ là Hội Chủ GHPGVNTN Hải Ngoại UĐL-TTL hiện nay. Giới đàn nầy do HT Giác Nhiên 1878-1979 (đức đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN 1973-1978)làm Đàn Đầu . 


HT Giac Nhien tham PG Binh Dinh (6)
https://quangduc.com/a64331/tieu-su-duc-de-nhi-tang-thong-truong-lao-ht-thich-giac-nhien

HT Giác Trí cũng được chính thức cử về làm Trụ trì chùa Long Hòa cũng từ năm đó.

Trước 1975, Ngài Giác Trí làm Chánh Đại Diện GHPGVNTN quận Phù Cát, và sáng lập Trường Bồ Đề Phù Cát.

Ngài thế độ rất nhiều vị Tăng Ni, mà trưởng tử là TT Thích Nhật Quang (sinh 1939, năm nay 69 tuổi, bạn học đồng song tại Phật Học Viện Phước Huệ chùa Thập Tháp với TQB thời kỳ 1969-1973), hiện Trụ trì chùa Long Đức, Phù Cát, Bình Định.

Đại đức Thích Quảng Độ, được Ngài Giác Trí cử làm Trụ trì chùa Long Hoa, hiện cũng là Thư Ký Trường Trung Cấp Phật Học Nguyên Thiều, Bình Định.


htgiactri-1



Mùa An Cư năm 2007, HT Thích Giác Trí đã đến thăm Úc Châu và chứng minh Trường Hạ Vạn Hạnh, Thủ Đô Canberra, theo lời cung thỉnh của TT Thích Quảng Ba.

(Thích Quảng Ba ghi vội 6/7/2007)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2013(Xem: 12737)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24132)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10092)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8612)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8495)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8389)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9545)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9857)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15024)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 7973)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...