Hòa Thượng Thích Giác Trí

09/04/201319:11(Xem: 18296)
Hòa Thượng Thích Giác Trí

Đôi nét về 

Hòa Thượng Thích Giác Trí

HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.

Đại sư Huyền Giác 1881-1954 là trưởng tử của Pháp sư Phổ Huệ 1870-1931
http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/65danhtang02.html.


Pháp sư Phổ Huệ là vị Pháp sư thứ hai, đồng thời với Quốc sư Phước Huệ 1869-1945 chùa Thập Tháp
http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/64danhtang2.html, cùng được triều đình mời ra Huế để dạy Kinh cho Hoàng gia trong các đời vua Thành Thái, Khải Định, Bảo Đại.


htgiactri-2


HT Thích Giác Trí


Ngài Giác Trí thọ giới Sa Di tại Tổ đình Thiên Đức năm 1942 lúc 15 tuổi, tức là đồng đàn với HT Đỗng Minh 1927-2005 (được Bổn Sư là HT Huyền Tân 1911-1979 ở Phan Rang gởi ra thọ giới tại Tổ đình Thiên Đức). Giới đàn do Tổ Huệ Chiếu, Tâm Tịnh 1897-1970, làm Đàn Đầu.

Vì Ngài Huyền Giác viên tịch sớm nên HT Giác Trí được Bổn sư di chúc đến xin y chỉ với HT Tâm Tịnh - Huệ Chiếu (là sư ông của TQB) tại Tổ đình Thiên Đức http://www.quangduc.com/Danhnhanvn/64danhtang4.html, và sau đó được Tổ Tâm Tịnh gởi đến tham học Kinh Luật Luận với sư huynh là HT Nguyên Lưu - Giác Tánh 1911-1987, (Bổn sư Phù Pháp của TQB) tại Phật học đường tại Tổ Đình Hưng Long, trong thời gian 9 năm Việt Minh 1945-1954.

Có hơn 50 Tăng Ni Bình Định và miền Trung đã được HT Giác Tánh (HT Giác Tánh là bạn đồng song ở Phật học đường Tây Thiên do Quốc sư Phước Huệ giảng dạy thời 1928-1935 với các HT: Trí Thủ 1909-1984, Đôn Hậu 1904-1992, Mật Hiển 1907-1985, Mật Nguyện 1911-1972, Phúc Hồ 1904-1986, Hành Trụ 1905-1986, Thiện Hòa 19??-1978, Huyền Tân 1911-1979, v.v...) đào tạo tại Tổ đình Hưng Long trong thời gian từ 1942 đến 1970 là năm HT Giác Tánh rời Hưng Long về nhận lãnh Trụ trì Tổ đình Thiên Đức sau khi Bổn sư viên tịch.

Ngài Giác Trí thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Hải Đức Nha Trang năm 1957, đồng đàn với HT Trừng San 1922-1991, và HT Như Huệ là Hội Chủ GHPGVNTN Hải Ngoại UĐL-TTL hiện nay. Giới đàn nầy do HT Giác Nhiên 1878-1979 (đức đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN 1973-1978)làm Đàn Đầu . 


HT Giac Nhien tham PG Binh Dinh (6)
https://quangduc.com/a64331/tieu-su-duc-de-nhi-tang-thong-truong-lao-ht-thich-giac-nhien

HT Giác Trí cũng được chính thức cử về làm Trụ trì chùa Long Hòa cũng từ năm đó.

Trước 1975, Ngài Giác Trí làm Chánh Đại Diện GHPGVNTN quận Phù Cát, và sáng lập Trường Bồ Đề Phù Cát.

Ngài thế độ rất nhiều vị Tăng Ni, mà trưởng tử là TT Thích Nhật Quang (sinh 1939, năm nay 69 tuổi, bạn học đồng song tại Phật Học Viện Phước Huệ chùa Thập Tháp với TQB thời kỳ 1969-1973), hiện Trụ trì chùa Long Đức, Phù Cát, Bình Định.

Đại đức Thích Quảng Độ, được Ngài Giác Trí cử làm Trụ trì chùa Long Hoa, hiện cũng là Thư Ký Trường Trung Cấp Phật Học Nguyên Thiều, Bình Định.


htgiactri-1



Mùa An Cư năm 2007, HT Thích Giác Trí đã đến thăm Úc Châu và chứng minh Trường Hạ Vạn Hạnh, Thủ Đô Canberra, theo lời cung thỉnh của TT Thích Quảng Ba.

(Thích Quảng Ba ghi vội 6/7/2007)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 13779)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 9149)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 6143)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9869)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 29756)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13871)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9416)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 17806)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12333)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 21199)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.