Hòa Thượng Thích Giác Thông

09/09/201416:21(Xem: 16514)
Hòa Thượng Thích Giác Thông

 HT Thich Giac Thong (3)

 

CUNG TUYÊN TIỂU SỬ

HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC THÔNG

Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Thạnh - Tây Ninh

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

1. THÂN THẾ:

Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo.

Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.

2. ĐẠO NGHIỆP:

Vốn có túc duyên với Phật Pháp, năm 26 tuổi vào ngày mùng 6 tháng 2 năm 1965, được sự đồng ý của song thân, Ngài được Bổn Sư là Hòa Thượng Thích Giác Giới tế độ thế phát xuất gia, theo Thầy học đạo tại Tịnh Xá Ngọc Viên, Phường 2, Thành Phố Vĩnh Long, Tỉnh Vĩnh Long.

Sáu tháng sau, ngày 22 tháng 8 năm 1965, thọ Sa Di giới tại Tịnh Xá Ngọc Viên, Vĩnh Long.

Rồi lần lượt 9 năm tu học với đạo tâm bất thối, phát túc siêu phương, dưới sự dìu dắt của Bổn Sư, trong tinh thần sống chung tu học, đến ngày 15 tháng 7 năm 1974, Ngài được thọ Tỳ Kheo giới tại Tịnh Xá Ngọc Liên, Bạc Liêu.

3. HÀNH ĐẠO GIÁO HOÁ:

Từ tháng 7 năm 1976, Hòa Thượng lãnh trách nhiệm Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Đồng, Huyện Gò Công Tây, Tỉnh Tiền Giang.

Vào tháng 9 năm 1991 cho đến ngày viên tịch hôm nay, Hòa Thượng được sự phân công của Giáo Đoàn, Hòa Thượng tiếp tục lãnh trách Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Thạnh, Tây Ninh.

 

Đối với công đức của Hòa Thượng đã hiến dâng trọn đời cho Đạo Pháp và Chúng Sanh, những tưởng trên bước đường phục vụ Hòa Thượng còn đóng góp nhiều hơn thế nữa, để cùng Chư Tôn Đức lãnh đạo Giáo Đoàn, cùng chư Huynh đệ vui buồn có nhau, làm hải đăng định hướng cho Phật Tử dõi buớc nói theo, làm bóng cây che mát Phật Tử giữa trời nắng hạ trên đường về bên giác. Nào ngờ đâu, một phút vô thường, huyễn thân tạm xả, ta bà hoá mãn, tịnh độ khai hoa. Nên Hòa Thượng đã thuận lý vô thường, thâu thần thị tich vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 21 tháng 7 âm lịch năm Giáp Ngọ 2014, trụ thế 76 năm, xuất gia 49 năm, hạ lạp 40 năm. Thế là đến đây Hòa Thượng từ bỏ huyễn thân, trở về thế giới Niết Bàn vô sanh bất diệt. Quả thật:

"Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người như huyễn.

Tử sinh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê".

Thế là Hòa Thượng sau 76 năm hiện hữu nơi cõi ta bà, 49 năm gởi thân vào chốn Thiền môn, 40 năm An Cư Kiết Hạ, và nhất là từ tháng 9 năm 1991 đến nay, trải qua 23 năm dài mang trên vai bao việc Phật sự nơi Tịnh Xá Ngọc Thạnh, mặc dù chí nguyện chưa thành, nhưng Hòa Thượng đã vội ra đi. Song công đức của Hòa Thượng đối với đạo pháp, Giáo Hội, Giáo Đoàn vẫn sống mãi trong tâm trí mọi người.

 
HT Thich Giac Thong (6)

Tưởng Nhớ Sư Phụ

Trước cốc Sư con quì niệm Phật

Sư Phụ còn tâm nguyện chưa thành

Mặt bằng Tịnh Xá chưa đắp xong nền đất

Phật rước Sư về khi Tịnh Xá chưa hoàn thành.

 

Con quý tiếc thời gian dài Sư đã đợi

Thuyền cập bờ mong đón khách qua sông

Được mấy người cùng thuyền về đất Tổ

Sư Phụ độ thế nào con vẫn mải u mê.

 

Sáng nay về Tịnh Xá người đông mà con thấy vắng

Bóng vị Thầy đức trọng thanh cao

Ơn giáo dưỡng con nhớ lời Sư đã dạy

Đáp nghĩa Ân Sư câu niệm Phật đừng quên.

 

Lần cuối cùng Sư giảng Pháp

Con lặng nhìn Sư Phụ sắc đổi thay

Mắt trũng sâu, da tái, người đã gầy

Lời giảng Pháp thăng trầm như hụt hẫng.

 

Sư bảo oan gia nghiệp chướng nhiều đời đã tạo

Phải sẵn sàng trả nợ từ xưa

Sư nói với đạo tràng Sư nhức đầu nhiều lắm!

Bác sĩ bảo Sư nhổ răng chạm thần kinh.

 

Con yên tâm nghĩ rằng Sư sớm khỏe

Nặng gì đâu? chỉ nhổ mấy cây răng

Khối u nghiệp chướng nằm nghiệt ngã

Sự thật đau lòng lệ rát tâm con.

 

Bận việc gia đình con ít về Tịnh Xá

Nhưng vẫn luôn thăm hỏi về Sư

Dù ra sao với ít nhiều công đức

Con nguyện hồi hướng cho Sư trả nghiệp nhẹ nhàng hơn.

 

Con khoanh tay, lặng nhìn bức tranh có hình Sư bên cốc

Với y vàng, chân đất, giản đơn

Tướng hảo uy nghi mà cởi mở

Gần thật gần, xa cũng thật xa!

Sư Phụ ơi! vậy là...sao con chấp nhận!

Nổi nào bằng ... Vĩnh biệt thiên thu.

 

Thế cũng xong một đời người

Một đời người tuy ngắn nhưng dài lợi ích

Cho chúng con có được pháp tu

Sư là đuốc tri huệ soi đường con bước

"Các con ơi! luôn niệm Phật A  Di Đà ".

 

Thế cũng xong một đời người

Một đời người lắm đổi thay

Lúc đau, lúc khỏe như thời tiết

Có gì đâu cái sự đời!.

 

Sư đã bao phen vì thế sự

Đủ những lời nặng nhẹ thị phi

Có nổi oan nào bằng Oan Âm Thị Kính

Trời trong mưa tạnh lộ quang minh

 

Sư Phụ một đời tu khổ hạnh

Có cần chi chùa lớn với cốc xinh

Đã không màng danh lợi từ lúc trẻ

Đôi chân trần hoằng pháp độ chúng sanh.

Hương Lưu.

Mùa Vu Lan 2014.

 

HT Thich Giac Thong (1)HT Thich Giac Thong (2)HT Thich Giac Thong (3)HT Thich Giac Thong (4)
HT Thich Giac Thong (5)HT Thich Giac Thong (6)HT Thich Giac Thong (7)HT Thich Giac Thong (8)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/06/2011(Xem: 7874)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9160)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9201)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18495)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18424)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9469)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27473)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12746)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7222)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.
05/05/2011(Xem: 7500)
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm thì thầy đã ra đi biền biệt.