Tiểu sử HT. Thích Trí Nhãn

09/04/201318:53(Xem: 10251)
Tiểu sử HT. Thích Trí Nhãn

httrinhan

TIỂU SỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG Thượng TRÍ Hạ NHÃN
Nguyên trụ trì tổ đình Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam

Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.

Ngài là con thứ năm cũng là con út trong một gia đình có truyền thống Phật giáo lâu đời. Cha Ngài là cụ ông Đoàn Nhơn, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Có. Ngài có ba chị gái là Đoàn Thị Hồ, Đoàn Thị Trung, Đoàn Thị Hiếu và một anh trai tên là Đoàn Văn Thức. Người chị thứ ba của Ngài là Đoàn Thị Hiếu hiện giờ còn sống và thọ 99 tuổi.

Gia đình Ngài ở gần chùa Vạn Đức, thân sinh Ngài, cụ Đoàn Nhơn là bổn đạo thuần thành của chùa, thường lui tới lễ tụng. Ngài được theo cha đi chùa từ thuở nhỏ và đã tỏ ra có tiền duyên với đạo. Một lần nhân ngày Phật Đản, Ngài theo gia đình đi chùa và gặp Ngài Tăng Cang Thích Thiện Quả về chứng minh đại lễ tại đây, Ngài cảm mến đức hạnh của Ngài Tăng Cang và xin qui y thọ giới, được Ngài Tăng Cang cho pháp danh là Như Truyện. Năm ấy Ngài mới lên 10 tuổi. Thuở nhỏ Ngài đã học chữ Nho với ông nội và rất có năng khiếu viết chữ. Lúc bấy giờ sự học tập còn rất khó khăn nhưng nhờ hiếu học nên Ngài đã tự tập viết theo tứ thể trong lịch đại bản chữ Hán và viết rất thuần thạo các loại chữ chân, lệ, triện, thảo. Do vậy, Hòa Thượng Tăng Cang, nhân thế danh Ngài là Đoàn Thảo, đã cho Ngài pháp danh là Như Truyện (Truyện là âm đọc lúc bấy giờ của chữ Triện phát âm theo Hán Việt bây giờ). Đến năm 1920, được song thân cho phép, Ngài đã vào chùa Chúc Thánh xin xuất gia. Đến năm 1925 Ngài mới thọ giới Sa Di và được cho pháp tự là Giải Lệ. Đến năm 1933, Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư cho thọ giới tỳ kheo và cho pháp hiệu là Trí Nhãn.

Sau khi Ngài đã thọ giới tỳ kheo được một thời gian thì được Hòa Thượng Bổn Sư, Tăng Cang Thích Thiện Quả cử làm phó trụ trì để giúp Hòa Thượng trong vấn đề điều hành công việc chùa. Trong thời gian này, vì tổ đình Vạn Đức lúc bấy giờ không có người nên chư sơn đã cử Ngài kiêm nhiệm làm trụ trì tổ đình Vạn Đức cho mãi đến sau này có Đại đức Thích Trí Nguyên đảm nhiệm, Ngài mới thôi. Đến năm Nhâm Dần 1962, sau khi Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả viên tịch thì Ngài mới kế nhiệm làm trụ trì tổ đình. Mặc dù trên danh nghĩa là phó trụ trì, nhưng mọi việc trong chùa đều do Ngài đảm đương và giải quyết cả, vì Hòa Thượng Tăng Cang tuổi già sức yếu, lại thường hay đau ốm. Mãi cho đến năm 2001 (Ngài đã 92 tuổi), sau cơn đau nặng, thấy sức không còn đủ đảm đương trọng trách làm trụ trì để lo cho tổ đình, Ngài đã triệu tập chư tăng ni môn phái để thỉnh tân trụ trì và qua cuộc họp ngày 15/6/2001 (24/5/Tân Tỵ) có sự hiện diện đông đủ của chư tôn đức tăng ni trong môn phái, dưới sự chủ tọa của Hòa Thượng Thích Trí Giác, Ngài đã chính thức đề cử Đại Đức Thích Đồng Mẫn thay Ngài kế thế làm trụ trì Tổ Đình và được tất cả chư tăng ni trong môn phái hiện diện trong cuộc họp thống nhất. Như vậy Ngài chính thức làm trụ trì Tổ Đình từ sau khi Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả viên tịch năm 1962 cho đến năm 2001 là 39 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, cả đời Ngài đã gắn liền với chùa Chúc Thánh, ngôi Tổ Đình chính của tôn môn Lâm Tế Chúc Thánh. Và chính sự tồn tại của Tổ Đình với mô hình kiến trúc còn như thời nguyên sơ của nó cho đến ngày nay đã nói lên công đức vô lượng của Ngài. Vì từ khi Ngài đến thế phát xuất gia tại đây vào năm 1920 cho đến trước năm 1975, thì quê hương đất nước chúng ta luôn luôn trong thời khói lửa chiến tranh, và nhất là ở một nơi thuộc vùng tiêu khổ kháng chiến như ở nơi đây. Đến năm 1975 thì Ngài đã 66 tuổi. Mặc dầu vậy, khi điều kiện cho phép thì Ngài cũng đã phát tâm trùng tu lại ngôi tháp tổ khi sơn cao 7 tầng nguy nga hùng vĩ như ngày nay và tháp sư tổ Bổn sư Ngài, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả cao 5 tầng.

Về vấn đề tiếp đăng độ chúng, thì số đệ tử xuất gia của Ngài từ trước 1975 cũng rất đông đảo, nhưng sau ngày 30/4/1975 thì một số lớn đã hoàn tục, chỉ còn lại hai vị chính là:

- Đại đức Thích Hạnh Chánh, hiện đang tu học tại Ấn Độ, và

- Đại đức Thích Hạnh Thiện, hiện cũng đang tu học tại chùa Pháp Hoa, Nam Úc.

Ngoài ra, các vị đệ tử y chỉ của Hòa Thượng thì có:

- Thượng tọa Thích Hạnh Thiền, đương kim Ủy viên Kiểm soát BTS/PG/QN. Chánh đại diện PG/Hội An.

- Thượng tọa Thích Hạnh Trí, đương kim Trưởng ban nghi lễ BTS/PG/QN, chánh đại diện PG/Duy Xuyên.

- Đại đức Thích Hạnh Hoa, Trưởng ban Văn Hóa BTS/PG/QN, Phó Ban đại diện PG/Hội An.

- Đại đức Thích Hạnh Nhẫn, Phó Ban đại diện PG/Hội An.

- Đại đức Thích Đồng Mẫn, đương kim trụ trì Tổ đình.

- Đại đức Thích Giải Quảng, Trưởng ban HĐPT/BTS/PG/QN, chánh đại diện PG/Điện Bàn.

- Đại đức Thích Hạnh Minh.

- Đại đức Thích Hạnh Hòa.

Về đệ tử tại gia của Hòa Thượng thì rất nhiều, không thể tính kể hết được.

Với công đức cao dày của Hòa Thượng trong vấn đề duy trì Tổ nghiệp kế vãng tu lai, là một vị đạo cao lạp trưởng, được sơn môn tăng già tấn phong Ngài lên ngôi vị Hòa Thượng. Tại Quảng Nam, Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh nhà cũng đã cung thỉnh Ngài làm chứng minh cho BTS.

Theo định luật vô thường sinh diệt, thân tứ đại cũ mục phải trả về cho tứ đại, sau một thời gian dài đau ốm, mặc dầu đã được tận tình lo liệu thuốc men, nhưng vì tuổi hạc quá cao, Ngài đã thâu thần diệt độ vào lúc 1 giờ 15 phút ngày rằm tháng 2 nhuận năm Giáp thân (4/4/2004), hưởng thượng thọ 96 tuổi, 71 hạ lạp, để lại vô vàn thương tiếc cho môn phái, môn đồ, pháp quyến, các cấp Giáo hội cũng như toàn thể đạo hữu Phật tử gần xa.

Hôm nay, trước giờ cung tống kim quan cố Đại lão Hòa thượng nhập bảo tháp, BTC chúng tôi thành kính viết lại đôi dòng tiểu sử của Hòa Thượng để tất cả cùng truy niệm công đức của Ngài đã cống hiến cho đạo pháp, cho môn phái, cho sự tồn tại của Tổ đình Chúc Thánh này, một trong những di tích liệt hạng đã được nhà nước nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Ngưỡng mong giác linh Hòa Thượng thùy từ chứng giám.

Nam mô Chúc Thánh tự nguyên trụ trì Tân viên tịch tự Lâm Tế Chánh tôn đệ tứ thập nhất thế húy thượng Như hạ Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Trí Nhãn Hòa Thượng Giác linh thùy Giám.

Ban tổ chức Lễ Tang

Cẩn soạn

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/08/2011(Xem: 9038)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17521)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 9164)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10375)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8785)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9539)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9747)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 9264)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11537)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 8281)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.