Tiểu sử HT. Thích Trí Nhãn

09/04/201318:53(Xem: 10246)
Tiểu sử HT. Thích Trí Nhãn

httrinhan

TIỂU SỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG Thượng TRÍ Hạ NHÃN
Nguyên trụ trì tổ đình Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam

Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.

Ngài là con thứ năm cũng là con út trong một gia đình có truyền thống Phật giáo lâu đời. Cha Ngài là cụ ông Đoàn Nhơn, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Có. Ngài có ba chị gái là Đoàn Thị Hồ, Đoàn Thị Trung, Đoàn Thị Hiếu và một anh trai tên là Đoàn Văn Thức. Người chị thứ ba của Ngài là Đoàn Thị Hiếu hiện giờ còn sống và thọ 99 tuổi.

Gia đình Ngài ở gần chùa Vạn Đức, thân sinh Ngài, cụ Đoàn Nhơn là bổn đạo thuần thành của chùa, thường lui tới lễ tụng. Ngài được theo cha đi chùa từ thuở nhỏ và đã tỏ ra có tiền duyên với đạo. Một lần nhân ngày Phật Đản, Ngài theo gia đình đi chùa và gặp Ngài Tăng Cang Thích Thiện Quả về chứng minh đại lễ tại đây, Ngài cảm mến đức hạnh của Ngài Tăng Cang và xin qui y thọ giới, được Ngài Tăng Cang cho pháp danh là Như Truyện. Năm ấy Ngài mới lên 10 tuổi. Thuở nhỏ Ngài đã học chữ Nho với ông nội và rất có năng khiếu viết chữ. Lúc bấy giờ sự học tập còn rất khó khăn nhưng nhờ hiếu học nên Ngài đã tự tập viết theo tứ thể trong lịch đại bản chữ Hán và viết rất thuần thạo các loại chữ chân, lệ, triện, thảo. Do vậy, Hòa Thượng Tăng Cang, nhân thế danh Ngài là Đoàn Thảo, đã cho Ngài pháp danh là Như Truyện (Truyện là âm đọc lúc bấy giờ của chữ Triện phát âm theo Hán Việt bây giờ). Đến năm 1920, được song thân cho phép, Ngài đã vào chùa Chúc Thánh xin xuất gia. Đến năm 1925 Ngài mới thọ giới Sa Di và được cho pháp tự là Giải Lệ. Đến năm 1933, Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư cho thọ giới tỳ kheo và cho pháp hiệu là Trí Nhãn.

Sau khi Ngài đã thọ giới tỳ kheo được một thời gian thì được Hòa Thượng Bổn Sư, Tăng Cang Thích Thiện Quả cử làm phó trụ trì để giúp Hòa Thượng trong vấn đề điều hành công việc chùa. Trong thời gian này, vì tổ đình Vạn Đức lúc bấy giờ không có người nên chư sơn đã cử Ngài kiêm nhiệm làm trụ trì tổ đình Vạn Đức cho mãi đến sau này có Đại đức Thích Trí Nguyên đảm nhiệm, Ngài mới thôi. Đến năm Nhâm Dần 1962, sau khi Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả viên tịch thì Ngài mới kế nhiệm làm trụ trì tổ đình. Mặc dù trên danh nghĩa là phó trụ trì, nhưng mọi việc trong chùa đều do Ngài đảm đương và giải quyết cả, vì Hòa Thượng Tăng Cang tuổi già sức yếu, lại thường hay đau ốm. Mãi cho đến năm 2001 (Ngài đã 92 tuổi), sau cơn đau nặng, thấy sức không còn đủ đảm đương trọng trách làm trụ trì để lo cho tổ đình, Ngài đã triệu tập chư tăng ni môn phái để thỉnh tân trụ trì và qua cuộc họp ngày 15/6/2001 (24/5/Tân Tỵ) có sự hiện diện đông đủ của chư tôn đức tăng ni trong môn phái, dưới sự chủ tọa của Hòa Thượng Thích Trí Giác, Ngài đã chính thức đề cử Đại Đức Thích Đồng Mẫn thay Ngài kế thế làm trụ trì Tổ Đình và được tất cả chư tăng ni trong môn phái hiện diện trong cuộc họp thống nhất. Như vậy Ngài chính thức làm trụ trì Tổ Đình từ sau khi Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả viên tịch năm 1962 cho đến năm 2001 là 39 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, cả đời Ngài đã gắn liền với chùa Chúc Thánh, ngôi Tổ Đình chính của tôn môn Lâm Tế Chúc Thánh. Và chính sự tồn tại của Tổ Đình với mô hình kiến trúc còn như thời nguyên sơ của nó cho đến ngày nay đã nói lên công đức vô lượng của Ngài. Vì từ khi Ngài đến thế phát xuất gia tại đây vào năm 1920 cho đến trước năm 1975, thì quê hương đất nước chúng ta luôn luôn trong thời khói lửa chiến tranh, và nhất là ở một nơi thuộc vùng tiêu khổ kháng chiến như ở nơi đây. Đến năm 1975 thì Ngài đã 66 tuổi. Mặc dầu vậy, khi điều kiện cho phép thì Ngài cũng đã phát tâm trùng tu lại ngôi tháp tổ khi sơn cao 7 tầng nguy nga hùng vĩ như ngày nay và tháp sư tổ Bổn sư Ngài, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả cao 5 tầng.

Về vấn đề tiếp đăng độ chúng, thì số đệ tử xuất gia của Ngài từ trước 1975 cũng rất đông đảo, nhưng sau ngày 30/4/1975 thì một số lớn đã hoàn tục, chỉ còn lại hai vị chính là:

- Đại đức Thích Hạnh Chánh, hiện đang tu học tại Ấn Độ, và

- Đại đức Thích Hạnh Thiện, hiện cũng đang tu học tại chùa Pháp Hoa, Nam Úc.

Ngoài ra, các vị đệ tử y chỉ của Hòa Thượng thì có:

- Thượng tọa Thích Hạnh Thiền, đương kim Ủy viên Kiểm soát BTS/PG/QN. Chánh đại diện PG/Hội An.

- Thượng tọa Thích Hạnh Trí, đương kim Trưởng ban nghi lễ BTS/PG/QN, chánh đại diện PG/Duy Xuyên.

- Đại đức Thích Hạnh Hoa, Trưởng ban Văn Hóa BTS/PG/QN, Phó Ban đại diện PG/Hội An.

- Đại đức Thích Hạnh Nhẫn, Phó Ban đại diện PG/Hội An.

- Đại đức Thích Đồng Mẫn, đương kim trụ trì Tổ đình.

- Đại đức Thích Giải Quảng, Trưởng ban HĐPT/BTS/PG/QN, chánh đại diện PG/Điện Bàn.

- Đại đức Thích Hạnh Minh.

- Đại đức Thích Hạnh Hòa.

Về đệ tử tại gia của Hòa Thượng thì rất nhiều, không thể tính kể hết được.

Với công đức cao dày của Hòa Thượng trong vấn đề duy trì Tổ nghiệp kế vãng tu lai, là một vị đạo cao lạp trưởng, được sơn môn tăng già tấn phong Ngài lên ngôi vị Hòa Thượng. Tại Quảng Nam, Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh nhà cũng đã cung thỉnh Ngài làm chứng minh cho BTS.

Theo định luật vô thường sinh diệt, thân tứ đại cũ mục phải trả về cho tứ đại, sau một thời gian dài đau ốm, mặc dầu đã được tận tình lo liệu thuốc men, nhưng vì tuổi hạc quá cao, Ngài đã thâu thần diệt độ vào lúc 1 giờ 15 phút ngày rằm tháng 2 nhuận năm Giáp thân (4/4/2004), hưởng thượng thọ 96 tuổi, 71 hạ lạp, để lại vô vàn thương tiếc cho môn phái, môn đồ, pháp quyến, các cấp Giáo hội cũng như toàn thể đạo hữu Phật tử gần xa.

Hôm nay, trước giờ cung tống kim quan cố Đại lão Hòa thượng nhập bảo tháp, BTC chúng tôi thành kính viết lại đôi dòng tiểu sử của Hòa Thượng để tất cả cùng truy niệm công đức của Ngài đã cống hiến cho đạo pháp, cho môn phái, cho sự tồn tại của Tổ đình Chúc Thánh này, một trong những di tích liệt hạng đã được nhà nước nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Ngưỡng mong giác linh Hòa Thượng thùy từ chứng giám.

Nam mô Chúc Thánh tự nguyên trụ trì Tân viên tịch tự Lâm Tế Chánh tôn đệ tứ thập nhất thế húy thượng Như hạ Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Trí Nhãn Hòa Thượng Giác linh thùy Giám.

Ban tổ chức Lễ Tang

Cẩn soạn

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/09/2011(Xem: 10541)
Hòa thượng Thích Trí Minh thế danh Đinh Văn Nhiên sinh năm Giáp Thìn (1904) tại xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đinh Văn Siêu, pháp danh Ấn Lộc; thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Hành. Năm Nhâm Ngọ (1906), khi vừa tròn 3 tuổi thì mẫu thân qua đời, Ngài được người dì chăm lo nuôi dưỡng.
15/09/2011(Xem: 9399)
HT.Thích Trí Quang là một bậc danh tăng Việt Nam thời hiện đại. Ngài sinh năm Quý Hợi (1923), tại làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình - ngôi làng có mối liên hệ chặt chẽ với Phong trào Văn Thân của chí sĩ Phan Đình Phùng - trong một gia đình gồm sáu anh em trai. Gia đình HT đều theo Phật lâu đời; thân phụ sau này xuất gia, làm đệ tử của ngài Đắc Quang - Tăng cang chùa Linh Mụ.
12/08/2011(Xem: 9676)
Ở miền Trung, có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là trụ cột của công cuộc chấn hưng Phật giáo, thì ở miền Nam có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, một khuôn mặt Phật tử lớn đã cống hiến nhiều công lao trong việc chấn hưng và xây dựng Phật giáo phương Nam.
12/08/2011(Xem: 10968)
Sáng ngày 27-11-08 (nhằm mùng 1-11-Mậu Tý), lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, khoảng 40.000 Tăng Ni cả nước đã có mặt tại núi rừng Yên Tử, mảnh đất thiêng liêng đã khai sinh thiền phái Trúc Lâm, đậm đà bản sắc Việt, để dự quốc lễ Phật giáo, tưởng niệm 700 năm ngày mất của đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị vua anh minh và thiền sư lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam.
11/08/2011(Xem: 7508)
Suốt hai thế kỷ XVII-XVIII, đạo Phật gặp nhiều thuận duyên, phát triển nhanh chóng từ vùng đất Thuận Quảng đến khắp đồng bằng Nam Bộ. Sở dĩ được thế là nhờ trong chốn thiền môn nối nhau xuất hiện các bậc cao tăng như Viên Cảnh, Viên Khoan, Minh Châu, Nguyên Thiều, Liễu Quán... Ngoài xã hội thì các chúa Nguyễn và triều thần hết lòng hộ trì Tam bảo. Trong số các vị cư sĩ hộ pháp mà danh tiếng còn lưu truyền đến nay có Trần Đình Ân.
11/08/2011(Xem: 10548)
Tôi với Ni Sư không cùng chung một lớp nhưng lại chung một trường. Thành phố Huế chỉ lớn bằng bàn tay nên dù không quen cũng thành quen, chuyện lớn chuyện nhỏ gì của nhau rồi dần dà cũng biết cả, nhất là Ni Sư lại là một người học trò giỏi nữa. Thuở ấy Ni Sư là một nữ sinh Đồng Khánh áo trắng tóc thề, mắt sáng, da đã trắng mà má lại luôn luôn ửng hồng xinh xắn vô cùng, nên Tôn Nữ Hỷ Khương đã làm tặng Ni Sư mấy câu thơ như sau:
10/08/2011(Xem: 8708)
Câu hỏi có vẻ lẩn thẩn, bởi lẽ từ khi cắp sách đến trường, bắt đầu học lịch sử dân tộc, ai là người Việt Nam mà chẳng biết qua hơn một lần trang sử đời Trần và trang sử Trần Nhân Tông? Ai là người Việt Nam đã không tự hào về những chiến thắng quân Nguyên vẻ vang của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài ba của vị vua anh minh lỗi lạc Trần Nhân Tông?
10/08/2011(Xem: 8781)
Nhân dịp Đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn, một số website có đăng tin về việc phát hiện “nếp áo Tiểu thừa” trên tượng vua Trần Nhân Tông tại tháp tổ Huệ Quang của tác giả Trần Khánh Linh. Tôi quan tâm đến những chi tiết đã được trình bày sau đây:
10/08/2011(Xem: 9610)
Xuyên suốt lịch sử dân tộc, đã có biết bao nhiêu nhân vật với tư cách là người đứng đầu đất nước đã có những kỳ tích lẫm liệt đối với đất nước. Có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp dựng nước, lại có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp mở nước, hoặc có một số nhân vật có cả hai hoặc ba lãnh vực đó.
10/08/2011(Xem: 8144)
Cuộc đời xuất gia của Tổ Trúc Lâm là một cuộc đời hoạt động sôi nổi, tích cực. Ngoài các mùa kết hạ tại các am núi hay các chùa, thời gian còn lại Ngài thường đi vân du hoằng hoá đây đó. Năm 1304, “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ [đền miếu thờ các thần sằng bậy] và thực hành giáo lý Thập thiện”. Ngài muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý đạo Phật, góp phần củng cố triều đại thời hoàng kim của mình. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu Ngọ (tức 7 – XII - 1258). Năm 21 tuổi (1279), Ngài lên ngôi vua, trải qua hai niên hiệu là Thái Bảo và Trùng Hưng.