Kính tiễn biệt Thầy

09/04/201318:39(Xem: 8926)
Kính tiễn biệt Thầy

 

htdn

Giác linh Thầy tôn kính

Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.

Thầy đã sống một cuộc đời xứng đáng, phẩm cách vằng vặc như trăng rằm, chân tình rạt rào như sóng biển, để nay trong cuộc giã biệt này ai mà không tiếc, không thương, không tôn kính Thầy với hằng sa cảm xúc. "Thầy ra đi rất nhẹ nhàng" Đó phải chăng là cách sống trọn một đời dài của Thầy. Thầy nằm như đang ngủ, với gương mặt từ hòa, an nhiên. Đó phải chăng cũng là tất cả những gì có thực nơi Thầy mà chúng tôi hằng gặp gỡ.

Trong lặng lẽ, Thầy là gốc trầm thơm nơi núi sâu, là chiếc cột âm thầm chống đỡ ngôi nhà Việt Phật giữa ngữa nghiêng, là hơi thở hy vọng của một thế trận rã rời. Thầy sống như thế và cũng đã ra đi như thế.

Tuổi già, hạt lệ khô tưởng là khó chảy thành một giòng đau trước nổi niềm bao la thương cảm. Mà không, đôi mắt đã không từng dửng dưng với đời cũ đã rạt rào lệ xót trước niềm đau mới này. Một chia biệt rất bình thường nhưng rất đổi đột ngột, ngậm ngùi. Từ lúc biết rằng Thầy đã thực sự ra đi, tôi hay nhìn vào khoảng không bên ngoài cửa sổ, như lụt lội một dấu vết quen và tôi đã khóc, khóc Thầy bằng hai con mắt tin cậy từ lâu của tôi, về một sự vắng bóng đã mang theo rất nhiều kỳ vọng.

Nơi Thầy Chí cao- Nguyện lớn và Hùng tâm vẫn bằng lòng trú ngụ trong một thân xác khiêm tốn, nơi một đời sống hàng ngày đạm bạc, nơi một trái tim lúc nào cũng vui nghĩ tới người và mãi miết tìm hội cơ phụng sự. Việt Nam, trong "thời đại" của nữa cuối thế kỷ hai mươi, nếu có diễm phúc thấm nhuần chút nào "chất Phật" thì đó là một phần công lao đóng góp của Thầy, một người lúc nào cũng tha thiết "đem Phật về ngụ giữa đời" Thầy tình nguyện làm thân thuyền để chở Đạo và Đời, mời mọc ân cần những tâm hồn đời cảm rung theo lối đạo, khiến cho khu vườn thế gian một dạo thơm lừng hương Pháp. Làm báo, viết văn, soạn sách.cũng là để chở cái lý tưởng phụng sự nhân thế bằng con đường Phật, đem hạt giống "Tinh Hoa Phật học" gieo trồng trên miếng đất phàm lụy cho con người dài thêm tay hái! Thầy là ngọn đèn Pháp còn đầy dầu giữa đêm đông của Đạo, là ánh đuốc hùng tâm giữa bóng tối của Đời. Vắng Thầy rồi,

Đạo Pháp và Quê Hương có còn một hy vọng đổi thay? Chữ nghĩa tôi hôm nay được nói ra về Thầy, nhiều khi cũng trở thành trống rỗng, không đủ biểu trưng cho ý nghĩa của Một Cuộc Đời.

Thầy ơi, từ lâu, trong âm thầm tôi vẫn đợi một buổi trùng phùng với Thầy nơi quê cũ để mà tâm sự cho nỗi nhớ niềm mong. "Năm mươi năm ấy là bao nhiêu tình?" Từ một chỗ ngồi chung dưới gốc nhãn trên sân chùa Báo Quốc, tới những ngày Saigon thanh bạch dấn thân vào việc Đạo, đến những năm tháng lo toan cho tính mệnh Phật pháp và Quê hương qua tuyên ngôn "hóa giải"..Có phải lần cuối tôi với Thầy còn đi được với nhau là trên những chiếc xích-lô máy qua lại giữa một Saigon đã mất tên với những bao gạo nặng tình đi thăm những văn nghệ sỹ thân hữu đang lạc lõng giữa cuộc đổi đời! Bây giờ, Thầy đã đi trước, rồi thì nỗi đợi của tôi chỉ còn là niềm hờn tủi.

Ở nơi xa, tôi cúi đầu xin vọng bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn toàn tự do và giải thoát đã có lúc mượn tướng để vào đời, hành Bồ tát hạnh, và nay an nhiên trở về tịnh địa.

Kính tiễn biệt Thầy!

Thích Mãn Giác.




-- o0o --


| Những sáng tác của Hòa Thượng Thích Đức NHuận |

-- o0o --

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8877)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8683)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8476)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8024)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13054)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22107)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26886)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9361)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10444)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.
20/10/2010(Xem: 8335)
Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.