Kính tiễn biệt Thầy

09/04/201318:39(Xem: 8915)
Kính tiễn biệt Thầy

 

htdn

Giác linh Thầy tôn kính

Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.

Thầy đã sống một cuộc đời xứng đáng, phẩm cách vằng vặc như trăng rằm, chân tình rạt rào như sóng biển, để nay trong cuộc giã biệt này ai mà không tiếc, không thương, không tôn kính Thầy với hằng sa cảm xúc. "Thầy ra đi rất nhẹ nhàng" Đó phải chăng là cách sống trọn một đời dài của Thầy. Thầy nằm như đang ngủ, với gương mặt từ hòa, an nhiên. Đó phải chăng cũng là tất cả những gì có thực nơi Thầy mà chúng tôi hằng gặp gỡ.

Trong lặng lẽ, Thầy là gốc trầm thơm nơi núi sâu, là chiếc cột âm thầm chống đỡ ngôi nhà Việt Phật giữa ngữa nghiêng, là hơi thở hy vọng của một thế trận rã rời. Thầy sống như thế và cũng đã ra đi như thế.

Tuổi già, hạt lệ khô tưởng là khó chảy thành một giòng đau trước nổi niềm bao la thương cảm. Mà không, đôi mắt đã không từng dửng dưng với đời cũ đã rạt rào lệ xót trước niềm đau mới này. Một chia biệt rất bình thường nhưng rất đổi đột ngột, ngậm ngùi. Từ lúc biết rằng Thầy đã thực sự ra đi, tôi hay nhìn vào khoảng không bên ngoài cửa sổ, như lụt lội một dấu vết quen và tôi đã khóc, khóc Thầy bằng hai con mắt tin cậy từ lâu của tôi, về một sự vắng bóng đã mang theo rất nhiều kỳ vọng.

Nơi Thầy Chí cao- Nguyện lớn và Hùng tâm vẫn bằng lòng trú ngụ trong một thân xác khiêm tốn, nơi một đời sống hàng ngày đạm bạc, nơi một trái tim lúc nào cũng vui nghĩ tới người và mãi miết tìm hội cơ phụng sự. Việt Nam, trong "thời đại" của nữa cuối thế kỷ hai mươi, nếu có diễm phúc thấm nhuần chút nào "chất Phật" thì đó là một phần công lao đóng góp của Thầy, một người lúc nào cũng tha thiết "đem Phật về ngụ giữa đời" Thầy tình nguyện làm thân thuyền để chở Đạo và Đời, mời mọc ân cần những tâm hồn đời cảm rung theo lối đạo, khiến cho khu vườn thế gian một dạo thơm lừng hương Pháp. Làm báo, viết văn, soạn sách.cũng là để chở cái lý tưởng phụng sự nhân thế bằng con đường Phật, đem hạt giống "Tinh Hoa Phật học" gieo trồng trên miếng đất phàm lụy cho con người dài thêm tay hái! Thầy là ngọn đèn Pháp còn đầy dầu giữa đêm đông của Đạo, là ánh đuốc hùng tâm giữa bóng tối của Đời. Vắng Thầy rồi,

Đạo Pháp và Quê Hương có còn một hy vọng đổi thay? Chữ nghĩa tôi hôm nay được nói ra về Thầy, nhiều khi cũng trở thành trống rỗng, không đủ biểu trưng cho ý nghĩa của Một Cuộc Đời.

Thầy ơi, từ lâu, trong âm thầm tôi vẫn đợi một buổi trùng phùng với Thầy nơi quê cũ để mà tâm sự cho nỗi nhớ niềm mong. "Năm mươi năm ấy là bao nhiêu tình?" Từ một chỗ ngồi chung dưới gốc nhãn trên sân chùa Báo Quốc, tới những ngày Saigon thanh bạch dấn thân vào việc Đạo, đến những năm tháng lo toan cho tính mệnh Phật pháp và Quê hương qua tuyên ngôn "hóa giải"..Có phải lần cuối tôi với Thầy còn đi được với nhau là trên những chiếc xích-lô máy qua lại giữa một Saigon đã mất tên với những bao gạo nặng tình đi thăm những văn nghệ sỹ thân hữu đang lạc lõng giữa cuộc đổi đời! Bây giờ, Thầy đã đi trước, rồi thì nỗi đợi của tôi chỉ còn là niềm hờn tủi.

Ở nơi xa, tôi cúi đầu xin vọng bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn toàn tự do và giải thoát đã có lúc mượn tướng để vào đời, hành Bồ tát hạnh, và nay an nhiên trở về tịnh địa.

Kính tiễn biệt Thầy!

Thích Mãn Giác.




-- o0o --


| Những sáng tác của Hòa Thượng Thích Đức NHuận |

-- o0o --

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/12/2010(Xem: 15177)
Phật Giáo và A-dục Vương. K. R. Norman (Nguyên Tâm dịch) Hoàng đế Asoka, Con người của hòa bình và tình nhân bản. Minh Chi Đại đế Asoka và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Thích Quảng Đại Đại đế Asoka Maurya và những pháp dụ khắc trên đá Trần Trúc-Lâm Hoàng đế Asoka giã từ chinh chiến với nỗi thống khổ của người thắng trận. Trần Hương Lan Trường ca Kalinga. Trúc Thiê
19/12/2010(Xem: 30170)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua...
18/12/2010(Xem: 24529)
Từ thơ ấu, Tuệ Trung đã được khen là thông minh và dịu dàng. Giữ chức Thống Đốc Hồng Lô (bây giờ là tỉnh Hải Dương), ngài đã hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lược, và được thăng chức Tiết Độ Sứ trấn cửa biển Thái Bình.
17/12/2010(Xem: 11012)
.Thế là đại hạn đến rồi ! - Giường hạc canh thâu (1) phút mộng tàn, Nghìn thu vĩnh biệt nẻo nhơn gian ! .Thật vậy! - Hóa thân Báo xả siêu sinh tử, Chân tánh quang thu nhập Niết bàn. .Tuy nhiên - Chết chẳng sợ sa đường địa ngục Sống không ham đến ngõ Thiên đàng. Thế thì Người đi đâu ? - Cân bình nửa gánh về quê Phật, Để lại trần gian ngọn Pháp tràng !
17/12/2010(Xem: 12514)
NGHI BÁO TIẾN CÚNG DƯỜNG HÚY KỴ HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC TÁNH TRỤ TRÌ TỔ ĐÌNH THIÊN ĐỨC (Mùng 04 - tháng Giêng - ÂL)
16/12/2010(Xem: 14354)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
16/12/2010(Xem: 8239)
Lời Phát Biểu của HT Huyền Quang tại Tang Lễ Ôn Đôn Hậu ngày 3-5-1992
10/12/2010(Xem: 13762)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
04/12/2010(Xem: 9158)
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
02/12/2010(Xem: 10958)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)