Thứ năm: 10-07-2014

Đêm Thiền Trà Văn Nghệ

Hài kịch:

“Làm dâu trăm họ”




Soạn kịch bản:

Quảng Hương

Diễn Viên:

Đh Nguyên Giác

Đh Nguyên Hỷ

Đh Quảng Tịnh

Đh Tâm Hương



(Lời giới thiệu: Trong dân gian cũng như trong văn học, nghệ thuật, “làm dâu” muôn thuở là đề tài sôi nổi, nóng bỏng của những người “xuất giá”. Còn những Vị “xuất gia” thì răng hè? Sau đây, chúng con/chúng tôi xin kính mời qúy Ôn, qúy Thầy Cô cùng toàn thể qúy Phật tử hoan hỷ thưởng thức vở kịch vui “Làm dâu trăm họ” do các diễn viên của QĐĐC trình bày)

Chị Nguyên Giác cùng với Nguyên Hỷ đang cùng nhau quét lá, dọn dẹp trong sân Chùa Quảng Đức vừa hát chèo:

“Con Vua thì lại làm Vua,

Con Sãi ở Chùa lại quét lá đa

Lá đa quét mãi chẳng ra

Thì ra là tại mình con (của) Bố mình.”

Nguyên Giác: Mình không phải con Sãi, thảo nào từ rạng sáng tới giờ quét hoài, quét mãi chẳng trúng cái lá đa nào cả.

Nguyên Hỷ: Sư phụ mình có trồng cây Đa nào đâu mà Tỷ đòi quét cho ra. Tỷ thấy đó, có cây Bồ Đề mà lớn không nổi lấy đâu trồng tới cây Đa. (cười cười) Nhìn cái cây thấy ốm yếu, suy dinh dưỡng giống giống…Tỷ vậy đó.


Day_10_khoa_an_Cu (67)Day_10_khoa_an_Cu (68)Day_10_khoa_an_Cu (69)

Nguyên Giác: Thôi, vừa làm vừa đọc bài kệ quét lá cho thuộc đi, chứ hai mươi mấy năm nay Tỷ Muội mình đi Chùa như ăn cơm bửa mà có bài kệ học hoài không thuộc, tội cho Sư phụ mình, bị thiên hạ complain cứ lo xây Chùa mà không chịu dạy dỗ đệ tử đó, Muội à.

Nguyên Hỷ: Ừ há, sao mình ngồi “tám” chuyện thiên hạ cỡ nào cũng nhớ hết, mà hễ đụng tới kinh kệ, mới học thuộc xong, ra tới ngoài cửa, vấp trúng cục đá...... Muội quên hết ráo luôn à!

Nguyên Giác: Thương Sư phụ thì lo học hành, tu tập cho đàng hoàng đi.

(NG và NH trở lại công việc, vừa quét dọn vừa đọc nho nhỏ bài kệ quét lá)

(Vừa lúc đó ở ngoài cổng Chùa có người phụ nữ đứng nhìn dáo dác vào bên trong)

Quảng Tịnh: Răng giờ chừ mà cổng Chùa chưa mở rứa hè?

(Vừa đi qua, đi lại vừa hát)

“Cửa Phật từ bi, tu tập cho đời bớt khổ đau

Cửa Phật từ bi, cửa Phật từ bi hoá nhiệm mầu”

Tâm Hương: (mang tạp dề từ trong bếp ngúng nguẩy đi ra) Hai Tỷ ơi, xong chưa vô phụ cuốn chả giò kìa. Mẫu hậu Kim hối qúa trời qúa đất luôn. Đi làm công qủa mà cũng câu giờ nữa sao? Bộ một người leo lên rung cây cho lá rớt xuống còn một người quét hay sao mà lâu dữ vậy? (Chỉ ra ngoài cửa), mà sáng sớm có bà nào hình như không được bình thường lắm, tới Chùa không lo vô lạy Phật mà đứng ngoài đó hát hò vậy ta?

Nguyên Giác: Vậy sao? Bảo đảm là đệ tử của Thầy Nguyên Tạng rồi đó, chứ còn ai trồng khoai đất này nữa.

Nguyên Hỷ: Ủa mà sao Tỷ biết hay vậy? Bô Tỷ luyện được thần thông nhãn rồi hả?

Tâm Hương: Thì Cụ Tâm Thái nói đó “Đệ tử của Ôn Nguyên Tạng toàn là…

Nguyên Hỷ: Chắc giống Thầy ấy, toàn là người giỏi giang không chứ gì, phải hông?

Tâm Hương: Không phải... toàn là tửng tửng không hà, chẳng hạn như Tỷ Quảng Hương, Quảng Tịnh kìa, 4, 5 chục cái xuân xanh rồi mà lúc nào cũng tưởng như mình là (giả giọng Huế) Nữ sinh Đồng Khánh hết, (trở lại giọng bình thường) mới ghê chứ!

Nguyên Giác: Được rồi, để Tỷ ra dẹp loạn cho (vừa đi vừa lầm bầm) thời buổi này ít ai chịu ở dưới này ghê, cứ đòi lên trển không hà!

(Vừa lúc đó Quảng Tịnh đẩy cửa bước vào)

Quảng Tịnh: (Vừa đi vừa nói) Mình chưa đến nỗi già cả lắm mà mắt đã tèm lem tuốt luốt rồi, cổng chỉ khép hờ rứa mà không hay biết chi hết. (và tiến tới hỏi) Xin hỏi thăm mấy O một chút hí, Chùa ni có phải là Chùa Quảng Đức do Ôn Tâm Phương khai sơn không rứa?

Nguyên Giác: Dạ đây không phải Chùa Ni mà là Chùa Tăng Cô ạ. Sư phụ tôi đang bận trông coi mấy ông tướng làm công qủa rồi. Chứ giao cho mấy ổng, giống như mình nấu ăn mà giao cho 3 ông Táo vậy đó Cô ơi!

Nguyên Hỷ: Cô biết không, Sư phụ tui làm Trú trì mấy chục năm nay, cực khổ qúa nên retire mất tiêu rồi.

Quảng Tịnh: Dạ mình làm dâu chỉ có một họ thôi mà đã than trời trách đất, trong khi mấy Vị làm Trú Trì thì phải làm dâu cả trăm họ luôn mấy O nờ. Phật tử vô Chùa 9 người mà tới 10 ý lận, phiền não dữ lắm!

Nguyên Hỷ: Ủa 9 người thì 9 ý thôi chứ làm gì mà tới 10 ý cà?

Tâm Hương: Chậm tiêu qúa Tỷ ơi! Bởi vì có người cũng giống như thời tiết Melbourne vậy đó, sáng sớm trời lạnh thì muốn ý này, tới trưa trời trở nóng nên họ cũng thay đổi, đòi ý khác, rõ khổ thì thôi!

Nguyên Giác: (Nhìn qua TH cười nói) Muội này, hôm nay thông minh đột xuất ghê ta!

Quảng Tịnh: Ui chao, còn chưa kể mô nghe, cứ hễ đụng một chút là giận hờn, trách móc đủ điều hết. Người ni tâu, người tê tâu, người nớ tâu….. khiến qúy Thầy, qúy Cô nhức đầu, đau óc vô hậu luôn mấy O nờ!

Nguyên Hỷ: (giọng buồn buồn) Ừ, nghĩ lại mà tội cho Sư Phụ mình ghê, hèn gì cứ phải ráng cố gắng giải quyết cho ổn thỏa hết mọi việc từ bên trong ra tới bên ngoài mà hao tâm, tổn sức, phát bịnh luôn.

Tâm Hương: (Nói có vẻ não ruột) Đến nỗi muốn nở nụ cười, cười cũng không nổi. Mấy Tỷ thấy đó, rằm tháng giêng Thẩy cười được một cái rồi mãi... tới rằm tháng tư, Phật Đản sanh mới thấy Thẩy cười trở lại...

Nguyên Giác: Sư phụ còn cười được là hên lắm rồi đó mấy Muội à. Chứ hai Muội không thấy năm nay Sư Phụ mới chừng 59 tuổi mà ai nhìn vào cũng tưởng … 95 hết đó sao?

Nguyên Hỷ: Ai mà nói ác vậy Trời? Mấy người đó chắc mắt họ bị loạn thị hết rồi Tỷ ơi. Thật ra, nói một cách thành thật thì nhìn Sư Phụ mình lúc tắt nụ cười chừng 70 thôi à. Còn nếu lúc Sư phụ nở nụ cười thì cỡ … 65 chứ mấy!

Tâm Hương: (kéo vào nhau thì thầm) Tỷ Muội mình nói nhỏ nhỏ với nhau nghe thôi, chứ đừng để tới tai Thẩy thì Thầy Trò dễ xa nhau lắm đó nghe. (Quay qua QTịnh) Ủa quên, mà Chị không tìm Thầy Tâm Phương thì Chị cần tìm ai vậy?

Quảng Tịnh: Dạ người tui muốn tìm là Bào Đệ của Ôn ấy, Thầy tân Trụ Trì đó tề.

Nguyên Hỷ: À, thầy Nguyên Tạng hả? Mà Chị tìm Thầy ấy có việc gì không vậy?

Tâm Hương: Thầy ấy bận rộn dữ lắm! Thẩy thiền miệt mài cả ngày lẫn đêm trong phòng computer á. Tội lắm nghe, Thẩy làm việc đến nỗi ngày quên ngủ mà tối lại quên ăn (ý quên) ngày quên ăn, tối quên ngủ luôn đó Cô.

Quảng Tịnh: Thiền chi mà dễ sợ dữ rứa? Bộ Thầy ấy muốn chứng đắc cho sớm à? Nếu rứa thì nhờ mấy O vô thưa lại với Thầy ấy là có một Phật tử từ phương xa muốn được vào nhìn mặt và … nắm tay Thầy ấy một chút, một chút thôi hí!

(Cả 3 người giật bắn lên, trố mắt nhìn Quảng Tịnh và kéo nhau qua một bên xầm xì)

Nguyên Giác: Thiện tai, thiện tai! (lấy tay ngoáy ngoáy lỗ tai) Lỗ tai Tỷ có bị bịnh gì không đây? Thầy ấy mới lên nhậm chức có mấy ngày mà Ma Đăng Già mua tin tức ở đâu lẹ làng, xuất hiện nhanh vậy trời?

Nguyên Hỷ: Ma Đăng Già, Ma Đăng trẻ gì trong thời đại này Tỷ ơi…

Tâm Hương: Bà này Ma Đăng “nửa chừng xuân” thì có.

Nguyên Hỷ: Bà này chắc ghiền coi cuốn tiểu thuyết “Chuyện tình Liên Hoa Hòa Thượng” của Hòa Thượng Như Điển, nên bị lậm, lậm qúa cỡ rồi!

Tâm Hương: Ừ, chắc bả muốn làm Bà Hoàng Cô Cô chứ gì? Cùng là dân xứ Huế cả mà, nên khoái ở cõi trên thôi à, ớn qúa!

QTịnh: Nì, mấy O làm chi mà mặt mày O mô O nấy nổi bồ đề gai đầy hết rứa? Nếu mấy O không rảnh để vô thưa, thì tui xin đi vô thẳng luôn nghe.

Nguyên Giác: Đợi một chút đã… chắc Cô đây cũng đã từng nghe ông bà mình dạy “Nam Nữ thọ thọ bất tương thân” chứ gì?

Tâm Hương: Huống chi Thầy ấy là người xuất gia rồi, sao Cô đòi gặp mặt mà lại còn đòi nắm tay, nắm chân nữa là sao?

Quảng Tịnh: Tui chỉ đòi nắm tay thôi, chứ có đòi nắm chân mô? (ngập ngừng) Chuyện ni … phải keep secret (nói tiếng Anh bằng giọng Huế luôn) tui không thể nói ra được, hổ ngươi lắm mấy O nờ!

Nguyên Hỷ: (bực bội xắn tay áo lên) Nè, Cô đừng để chị em tui tức nước là vỡ bờ đó nghe Cô.

Quảng Tịnh: Ôn nhà văn Nguyễn Công Hoan vì chưa biết Phật Pháp nên mới để vỡ bờ, chứ còn tu hành lâu năm như mấy O rồi thì có tức nước mấy cũng phải ráng xây bờ cho cao hơn và chắc thêm nữa chứ hí?

Tâm Hương: (quay qua NH và NG) Gặp cao thủ võ lâm rồi mấy Tỷ ơi! Mình mà để Cô này vào gặp Thầy ấy thì Muội dám cá với mấy Tỷ (hát) “ngày sau sỏi đá cũng không còn nhìn thấy nhau” huống chi Thầy Trò mình, bảo đảm khỏi có ngày tái ngộ luôn.

Nguyên Hỷ: (nói cà lâm) Hay..hay… là để Muội chạy xuống cầu cứu HT Huyền Tôn cho chắc ăn. Ôn ấy mà ra tay rồi thì mười bà Ma Đăng già cũng tiêu tùng chứ đừng nói chi chỉ có một bà, chuyện nhỏ!

Nguyên Giác: Hòa Thượng đang bận dự khóa An Cư rồi, hai Muội cứ để đó Tỷ xử cho. (quay qua QT) Xin lỗi Cô, Chị em tôi dứt khoát không thể để Cô vào gặp Thầy ấy được. Xin tiễn... Cô.

Quảng Tịnh: Nếu mấy O đành đoạn không cho tui vô thì xin nhắn với Thầy ấy giùm tui như ri nì (hát Hồ Quảng) Trong giây phút ra đi, con nguyện ghi lời thề, khi con chưa thấy mặt Thầy, chưa nắm tay Thầy, con đây xin quyết... Chết không nhắm mắt mô Thầy. (Dợm chân định đi)

(Cả 3 đồng loạt nói: Nguyên Hỷ lầm bầm “Chung quanh Chùa, Long Thần, Hộ Pháp nhiều lắm mà dám thề bậy thề bạ …””; Nguyên Giác la lên “Mô Phật” còn Tâm Hương thì ca vọng cổ)

Tâm Hương: (vọng cổ) Khoang, xin Cô hãy dừng chân lại cho chị em tôi đây có đôi lời cạn tỏ, mong Cô hãy vì ngôi Chùa Quảng Đức nói riêng, vì sự trường tồn của Phật Pháp, vì chúng sanh nói chung, mà hãy từ bỏ đi ý định dại khờ... Xin Cô... (chuyển sang nói) Ủa, nhưng tui thấy Cô đây là người hiểu biết lắm mà, sao lại có yêu cầu quái chiêu như vậy?

Quảng Tịnh: Mai chừ (nãy giờ) mấy O tưởng tượng và suy diễn tới mô rồi? Mình đã là con Phật thì ráng suy nghĩ cái chi cũng cho “thẳng thớm” chứ đừng nghĩ cong cong quẹo quẹo, không nên mô hí! Thôi thì tui cũng chẳng dấu chi mấy O, thật ra vừa rồi Thầy ấy đi cứu trợ ở Huế, tui nghe thiên hạ đồn Thầy ấy là “Hoa khôi” của Tăng chúng bên Úc Châu, nên nhân tiện qua đây du lịch, tui tò mò muốn được chiêm ngưỡng dung nhan của Thầy ấy rứa mà.

Nguyên Hỷ: Vậy Cô có muốn tui dẫn Cô xuống Chùa Kim Cang để thăm Thầy “Hoa Hậu” Úc Châu luôn không?

Nguyên Giác: À, nếu Cô muốn coi mặt Thầy ấy thì ok, nhưng mắc mớ gì mà Cô lại đòi nắm tay Thầy ấy nữa chứ?

Quảng Tịnh: Là vì tui được biết thêm Thầy ấy còn là người sáng lập và chủ biên của trang nhà bó tay chấm cơm (botay.com). Dạ quên, là trang nhà quangduc.com nổi tiếng vô hậu luôn mấy O nờ!

Tâm Hương: Ừ, nhưng mà chuyện này có ăn nhậu gì tới việc nắm tay đâu chớ?

Quảng Tịnh: Dạ bị vì Mạ tui nói ai mà có đường chỉ tay chữ nhất là nổi tiếng dữ lắm, nên tui muốn cầm tay Thầy ấy coi thử Thầy ấy có cái đường chỉ tay đó không rứa mà.

Nguyên Hỷ: (Thở dài và nói nhỏ với NG và TH) Làm Trụ Trì đã trăm công ngàn việc, lao tâm, lao lực rồi mà còn gặp phải Phật tử quởn quởn như bà này đây thì chắc Thầy ấy lo chạy theo Phật cho lẹ qúa! Ớn thì thôi!

Nguyên Giác: (Lắc đầu ngán ngẫm) Tỷ chắc chắn sau một thời gian làm Trụ trì, mọi người nhìn vào sẽ tưởng Thầy ấy là Bào Huynh của sư phụ mình cho coi.

Tâm Hương: Thẩy không già thì mới lạ đó. Bởi vậy mà các Vị làm Trú Trì mới được mệnh danh là làm dâu trăm họ chứ, phải không mấy Tỷ???

Day_10_khoa_an_Cu (117)













(Xem nội dung PDF)





Hết

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11433)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12728)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24098)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10080)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8597)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8488)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8375)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9526)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9834)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14996)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: