Phật sự viên thành (Nguyên Lượng)

10/11/201318:19(Xem: 50216)
Phật sự viên thành (Nguyên Lượng)

TVQD_ Lo Thien Phat A Di Da 2a


PHẬT SỰ VIÊN THÀNH

Tôi sinh ra trong một gia đình theo tín ngưỡng Phật Giáo từ nhiều đời ở xứ Quảng Nam, nhờ công đức này của Tổ Tiên mà sau năm bảy mươi lăm, tám năm gian khổ trong các trại cải tạo ở miền cao nguyên Việt Bắc, những lúc bản thân gặp sự hiểm nguy và đối mặt với cái chết, tôi nhớ Phật, tưởng Phật và niệm Phật, nên đã vượt qua mọi chướng nạn trong đời sống. Ơn đức đó phải được kể đến Sư Phụ Bổn Sư của tôi là Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ, người mà tôi có duyên may quy y với Ngài tại Chùa Báo Quốc, Huế vào đầu năm 1950, người đã luôn luôn nhắc nhở khi tôi lên đường nhập ngũ ( SVSQTB / K12TĐ 1961 ).

Lời khuyến giáo tu tập của Ngài lúc đó tôi không quan tâm nhiều, vì lúc ấy trong tay tôi luôn có vũ khí và có quân lính dưới quyền, hơn nữa bổn phận người trai trong hoàn cảnh tổ quốc lâm nguy đâu sá gì sự nguy hiểm của bản thân, dù rằng trong người đã 3 lần bị trọng thương trong lúc giao chiến.

Từ sau tháng năm bảy mươi lăm, người dân miền Nam nói chung đã gánh chịu gian khổ cho một cuộc đổi đời. Riêng những người tham dự trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, những người trong guồng máy Quốc Gia chịu nhiều đắng cay khổ cực hơn, lao động khổ sai và còn bị lưu đày đến các trại cải tạo tại vùng rừng núi biên cương lạnh lẽo. Sự hiểm nguy luôn luôn đeo sát bên mình và chính đó là lúc con người mới giác ngộ, mới nghĩ đến tôn giáo của mình để mong cầu sự che chở, để nương tựa tìm một chút bình an cho tâm hồn, trong số đó có bản thân tôi.

Đến định cư tại Úc Đại Lợi tháng 6 năm 1984, vừa lo cho cuộc sống gia đình, vừa tham gia các sinh hoạt xã hội, thỉnh thoảng mới đi đến chùa lễ Phật, chùa nào cũng đến lạy Phật rồi về, đi cho có lệ chứ không quan tâm gì, cũng có những lúc tình nguyện làm công quả hay tham gia Phật sự chùa này hoặc chùa khác.

Vào mùa hè 1990 người chị của tôi cùng các bà bạn khác từ Nha Trang đến Úc để thăm thân nhân. Trong dịp này chị em mới gặp nhau và tôi đưa chị đi thăm Tu Viện Quảng Đức tại đường Bamburgh ở vùng Broadmeadows. Chùa được dựng lập theo kiểu " cải gia vi tự" từ một căn nhà 3 phòng do Thầy Thích Tâm Phương làm Trụ Trì, không gian chật hẹp, không có nơi đậu xe, chỉ đậu dọc theo đường lộ trước nhà dân chúng, dân vùng này đa số là di dân và không cùng tôn giáo với mình, nên chúng tôi nghe Thầy nói là chùa luôn gặp khó khăn trong mọi sinh hoạt. Thời điểm mà chị em tôi đến thăm chùa là gặp lúc trời mưa, đường vào Chùa hẹp và trơn trợt nên phải cẩn thận kẻo bị ngã té. Sau vườn, Thầy làm mái che thêm ra để có nơi Phật tử thọ trai, chỉ còn một mảnh đất trống rộng độ 2 chiếc chiếu mà Thầy dự tính sẽ an vị tượng Quán Thế Âm lộ thiên. Lúc này là lúc tôi và chị tôi động lòng cảm xúc và thương xót. Ngôi nhà quá chật hẹp, thương cảnh chùa quá nghèo nàn, thương Thầy quá đổi khó khăn trong sinh hoạt, tôi cùng đa số Phật tử đến đây đều có cảm nhận như vậy, trong số Phật tử của chùa có một vài đạo hữu thân quen ngày trước như: Đạo hữu Long Quân, đạo hữu Nguyên Khang và đạo hữu Võ Đại Sinh.

Trên đường về chị tôi khuyên nên thường xuyên về công quả để giúp Thầy xây chùa. Tôi vâng dạ, nhưng nhìn lại mình chỉ là hạt cát nhỏ đâu có cơ nghiệp gì, bản thân và gia đình vẫn còn ở nhờ nhà chính phủ. Nhưng thấy Thầy hiền từ dễ kính mến mà bản thân tôi cũng đã vài lần thăm viếng Thầy khi Thầy còn làm Trụ Trì Chùa Quang Minh, ngôi chùa lúc đó cũng chỉ là một ngôi nhà nhỏ trên đường Morris, vùng Sunshine, nên theo lời khuyên của chị, tôi thường xuyên về Tu Viện Quảng Đức để lạy Phật và cùng làm công quả với Phật tử.

Tôi nhớ, vào đầu năm 1997 chính phủ của Thủ hiến Jeff Kennet ra lệnh bán một số trường tiểu học và dồn các trường học lại để không phí phạm cơ sở hạ tầng. Nhân lúc này Thầy Tâm Phương bàn tính mua một ngôi trường cũ, tại vùng Fawkner, Phật tử chúng tôi không ai có ý kiến bàn ra bàn vào gì cả cứ im lặng để Thầy tự lo liệu. Phật tử vừa mừng vừa lo: nếu mua được thì có nơi rộng rãi thờ Phật trang nghiêm và sinh hoạt thoải mái; Nhưng lo tiền đâu có đến gần nửa triệu đô để mua. Sau thời gian ngắn Thầy quyết định mua và chính phủ bằng lòng bán. Cả vợ chồng chúng tôi cũng vừa mừng vừa lo. Bà xã tôi nói: “Thầy Tâm Phương gan thiệt, can đảm thiệt, trong tay Thầy không có một đồng và cũng không có tài sản thế chấp rứa mà Thầy có gan mua được.

Mọi việc được tiến hành và Tu Viện Quảng Đức ở Broadmeadows đã được dời về nơi đây. Phòng khách của ngôi trường cũ được sửa sang để tạm thời làm chánh điện, và lễ An Vị Phật đã được cử hành vào ngày 20/11/1997.

Trong dịp này Thầy Trụ Trì Thích Tâm Phương có tâm sự với tôi: “Bác Nguyên Lượng ơi ! bác đã lớn tuổi rồi, bớt các công tác sinh hoạt ngoài xã hội để về đây chung lưng với các đạo hữu và cùng Thầy đồng cam cộng khổ để kiến tạo Đạo Tràng Tu Viện Quảng Đức. Thầy dự tính xây cất Chánh Điện thờ Phật, kinh phí dự trù khoảng một triệu đô". Tôi vui vẻ nhận lời nhưng trong tôi hai lỗ tai của tôi nghe tiếng lùng bùng như đang lặn sâu dưới nước, mắt hoa lên, nhìn về phía trước là một khối tiền khổng lồ lấy đâu ra để mà xây dựng được. Thầy quyết tâm là phải tiến chứ không lùi, đó là bản tính của Thầy mà ai gần Thầy cũng biết. Thầy nói: “Ngày 10/12/2000 chùa mình sẽ cử hành lễ đặt đá”, vậy mà hôm tháng 11 vừa rồi, Thầy làm lễ tang cho bà ngoại của các cháu tại chánh điện mà không nghe Thầy nói gì cả, bây giờ nghe Thầy nói tôi mới giật mình. Chính thời gian này tôi thật lòng xăn 2 tay để cộng tác giúp Thầy, công việc gì tôi làm được thì tôi phát tâm làm ngay chứ không hề từ chối. Từ việc tổ chức gây quỹ xây dựng như cơm chay, buổi văn nghệ đều nhận bốn, năm xấp vé để dạo bán, còn mang sổ vàng của Chùa đến gõ cửa từng nhà các mạnh thường quân.

Tôi nhớ rằng những công việc này thường gặp cảnh đắng cay và tủi thân. Có một lần tôi mang sổ vang vào phòng mạch của một vị bác sĩ, khi đến nơi thì bác sĩ đã ra ngoài để ăn trưa, cô thư ký bảo tôi ngồi chờ nửa tiếng sau bác sĩ quay lại. Qua nửa tiếng, tôi chờ thêm 20 phút nữa vẫn không thấy bác sĩ trở về, tôi bèn đi và nói với cô thư ký 10 phút sẽ quay lại, nhờ cô viết một tấm giấy hẹn để ngay bàn bác sĩ cho tôi được gặp. Khi tôi trở lại thì cũng là lúc bác sĩ trở về phòng mạch, vị bác sĩ cho mời gọi một bệnh nhân vào khám bệnh, khi ông ấy trở ra để đưa bệnh nhân khác vào khám vậy mà ông không hề hỏi han gì đến tôi, tôi liền đứng dậy tới gặp ông đưa quyển sổ vàng và trình bày: “Thưa bác sĩ, tôi là Phật tử từ Tu Viện Quảng Đức ....”. mới nói đến đó vị bác sĩ đưa tay xua đuổi tôi vànói: "À tôi biết rồi, ông về đi, tôi sẽ gặp Thầy sau". Thế là vị bác sĩ quay lưng bước vào phòng. Tôi ôm sổ đi ra khỏi phòng mạch với sự ngậm ngùi, bước vào xe thì bà xã tôi hỏi: “Việc gì xảy ra mà anh cảm thấy mỏi mệt như vậy?". Tôi kể lại câu chuyện phải chờ đợi mất cả tiếng đồng hồ mà còn bị ông bác sĩ xua đuổi như vậy đó. Nhà tôi nói: “ Chấp nhất làm chi cho thêm phiền não, vì anh có xin cho cá nhân anh mô mà anh lo lắng. Cúng dường cho Chùa thì có phước, không cúng thì không có phước, đơn giản vậy thôi, ở Melbourne này còn nhiều mạnh thường quân khác mà, anh cố gắng gõ cửa vị khác, chứ đừng có nản lòng, bây giờ anh lấy lại bình thản để mà lái xe về chứ cố chấp mà lạng quạng lái xe nguy hiểm.”

Hằng tuần tôi vẫn đi lễ Phật như thường lệ nhưng mang trong lòng một sự tủi thân. Có một hôm sau khi làm lễ xong, tôi kể lại sự tủi thân của mình để trút bớt nỗi phiền lòng và cũng để chia sẻ với Thầy Trụ Trì. Nghe xong Thầy dạy rằng: “chúng sanh đa bệnh, Phật pháp đa môn, mình vì công việc Phật sự và xây dựng nên cố gắng nhẫn nhục để làm việc đạo, xin bác đừng nản lòng thất chí mà bỏ mất cơ hội để đóng góp cho Đạo Pháp và Dân Tộc, Thầy đã từng chịu nhiều đắng cay rồi và tất nhiên chưa hết đâu thưa bác, trong Luận Bảo Vương Tam Muội từng dạy rằng: với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Nên chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt, mà cầu mong thông suốt thì sẽ bị trở ngại. Thế tôn thực hiện tuệ giác bồ đề ngay trong mọi sự trở ngại. Ương quật hành hung, Đề Bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi, và sự phá hoại lại làm sự tác thành, hay sao? Ngày nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào?".

Nghe lời khai thị của Thầy mà lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng như trút hết bao nỗi lụy phiền. Vào đầu năm 2003, nhị vị Chánh Phó Trụ Trì lên chương trình lễ khánh thành sẽ tổ chức vào tháng 10 năm 2003. Giấy mời đến các quan khách chính phủ sẽ gởi trước 6 tháng cho chính khách tiện việc sắp xếp, phần tôi thì được giao phó lo mời phía cộng đồng người Việt và truyền thanh báo chí.
Nguyen Van Do
Suốt hơn 3 năm xây dựng sắp hoàn thành và tài chánh cũng khô cạn. Hội đồng thành phố đến xem và khuyến cáo là phải có hệ thống chữa lửa mới cấp giấy phép để khai trương. Thế là các đạo hữu cùng Thầy lo kiếm tiền để thực hiện hệ thống cứu hỏa này, lần thứ 2 Hội đồng thành phố đến xem xét để cấp giấy phép thì lại bị khuyến cáo thêm lần nữa là phải thực hiện chiếc thang máy cho người tàn tật lên Chánh Điện lễ Phật. Thời điểm này cả Thầy lẫn trò không ăn ngon ngủ yên được, đào đâu mà ra tiền nữa, Phật tử gần xa đã hết công sức tiền của đóng góp trong 3 năm nay rồi, đâu nỡ lòng mở lời kêu gọi nữa. Thầy trò bàn tính kêu gọi đến mạnh thường quân người Hoa. Thật là hiển nhiên khi gian truân thì có Phật độ. Chỉ mới gõ cửa một vị Phật tử người Hoa, Ông bà sẵn lòng cúng dường chiếc thang máy với phí tổn là 70 ngàn Úc kim để việc khánh thành chùa được tiến hành. Gia đình mạnh thường quân này chính là chủ nhân Happy Palace Reception ở vùng Pascovale.

Ngày 10, 11 và 12 tháng 3 năm 2003 đại lễ khánh thành được cử hành trọng thể. Chư Tôn Thiền Đức khắp thế giới đều về đây tham dự hơn 130 vị. Phật tử các nước xa gần và Phật tử địa phương Úc châu về tham dự suốt 3 ngày cũng trên 5000 người. Thầy trò mừng ra nước mắt, mọi công việc đều hoàn mãn, tổng kết chi tiêu cho 3 ngày đại lễ chỉ còn thiếu trên 10 ngàn Úc kim. Tôi và nhà tôi có bàn tính mừng thì mừng cho trót nên lúc đó chúng tôi cúng dường 10 ngàn Úc kim để bù vào chỗ thiếu hụt này.

Để mừng Đại lễ kỷ niệm 20 năm xây dựng ngôi Già Lam Quảng Đức, Phật tử xa gần, các ân nhân cùng Chư Tôn Đức đã cố tâm hoàn thành công trình xây cất Tăng xá cao 2 tầng và Bảo Tháp Tứ Ân cao 4 tầng để làm món quà dâng lên mừng Đại lễ kỷ niệm 20 năm góp phần xiển dương Đạo Pháp tại quê hương thứ hai này.

Nguyện cầu Chư Phật, Chư Bồ Tát gia hộ cho tất cả những người con Phật luôn vững tâm Bồ Đề, kiên cường tiến bước trên đường Đạo, chúng con cũng cầu mong mọi Phật sự xây dựng của Tu Viện Quảng Đức sớm viên thành trong ước nguyện của cộng đồng Phật tử trong và ngoài quốc gia Úc Đại Lợi.


Melbourne, mùa Phật Đản lần thứ 2634

Nguyên Lượng Nguyễn Văn Độ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/01/2019(Xem: 13124)
Thông Điệp Xuân Kỷ Hợi 2019 của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ
19/01/2019(Xem: 8742)
Thời gian là cái gì thật mầu nhiệm, không hình không tướng, tưởng như nó dửng dưng, lạnh lùng trước muôn sự, nhưng lại thầm lặng ân cần cất giữ những gì đã đi qua, rồi tùy đối tượng mà hoài niệm. Không ai nắm bắt lại được những tờ lịch đã rơi, nhưng bước chân của bao bậc hiền nhân quân tửđều như còn in hằn trong không gian khi thời điểm luân lưu trở lại theo vận hành của trời đất.
12/01/2019(Xem: 22190)
Thông Bạch Tết Kỷ Hợi 2019 Của Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ Sa Môn Thích Thắng Hoan
11/01/2019(Xem: 13764)
Co lẽ mùa trăng Thành Đạo 2562 – 2018 sẽ khó quên đối với nhạc sĩ Hằng Vang và gia đình, khi giữa bao cơn lốc thực dụng xâm chiếm nhiều ngõ ngách cuộc sống và lấn sang cả khu vực luôn được bảo trọng của tâm hồn trong từng con người: Trái tim ! Nếu nói về một sự tưởng thưởng hay tri ân thì nhạc sĩ Hằng Vang có thể còn đi bên trên những khuôn sáo, danh vọng đó. Hơn thế nữa sẽ không ai có thể nhân danh để ghi nhận sự tận tâm , cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc Phật giáo mà không hề đòi hỏi một đồng lương, một phần thưởng nào trong suốt 86 năm dài tận tụy của người nhạc sĩ lão thành hiện đang còn sống duy nhất bên chúng ta.
01/01/2019(Xem: 11853)
Hòa Thượng Thích Mãn Giác, pháp danh Nguyên Cao, đạo hiệu Huyền Không, thế danh Võ Viết Tín, sinh năm Kỷ Tỵ, 1929 tại Cố đô Huế, trong một gia đình mà Nội Ngoại đều tin Phật và nhiều nguời trong thân quyến đã có duyên xuất gia và nổi tiếng thân danh trên đường tác thành Phật sự. Cố đô Huế chỉ là sinh quán, còn nguyên quán thuộc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
16/12/2018(Xem: 10978)
1.Bảo An Hòa Thượng Nhất Đại Tôn Sư Đại Hỷ Đại Từ Trung Nam Bắc Phái Tề Tâm Kính Ngưởng. 2. Phổ Bảo Danh Lam Thiên Ban Diệu Dụng Ban Tuệ Ban Ân Thượng Hạ Biên Phương Chí niệm Quy Y.
07/12/2018(Xem: 10349)
Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội, sáng ngày 14.5.2008 đã khẳng định: “Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân.
28/11/2018(Xem: 7920)
Thế là đã tròn 15 năm kể từ ngày Thầy giã từ cuộc mộng. Chuyến hóa duyên này của Thầy khá là dài.... Con bây giờ đi gần hết đời người, quá nửa việc ngày xưa lẫn ngày nay gần như quên bẵng, nửa còn lại nhập nhằng giữa đôi bờ mộng thực chông chênh. Thếmà, từng chi tiết về lớp học năm xưa vẫn sáng ngời, vẹn nguyên trên đỉnh đồi tâm thức.
25/11/2018(Xem: 17192)
Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một giáo viên, nhà thơ và nhà hoạt động vì hoà bình được kính nể khắp thế giới, với những lời dạy mạnh mẽ và các cuốn sách bán chạy nhất của Ông về chánh niệm và hòa bình. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một tăng sỹ Phật giáo Việt Nam nổi tiếng trên thế giới. Có tài liệu cho biết, tầm ảnh hưởng của ông trong cộng đồng Phật giáo Phương Tây chỉ đứng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Lời dạy chủ yếu của ông là thông qua chánh niệm, chúng ta có thể học sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, cách duy nhất để phát triển hòa bình, cả trong bản thân và toàn xã hội.
21/11/2018(Xem: 12321)
Hòa Thượng thế danh NGUYỄN HƯỚNG, pháp danh TÂM HOÀN tự GIẢI QUY, hiệu HUỆ LONG, thuộc dòng thiền phái Lâm Tế đời thứ 43. Hòa Thượng sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tý (1924) trong một gia đình môn phong Nho giáo tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Giòng họ Nguyễn Phúc định cư dưới chân đồi Phốc Lốc tính đến đời Ngài đã trải qua 7 đời.Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phúc Trì tự Tung pháp danh Không Đảnh, đích mẫu là cụ bà Trần Thị Kiện mất sớm, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu pháp danh Không Chiêu, ông bà đều là đệ tử quy y với Quốc Sư Phước Huệ trú trì Tổ Đình Thập Tháp Di Đà