HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)

07/10/201317:15(Xem: 16894)
HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)


ChuaKimLien_HTTueHai

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ HẢI

1- Thân thế

Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 45. Pháp danh: Quảng Đại, Pháp hiệu Ấn tạng, Pháp tự Tuệ Hải, thế danh là Hồ Văn Đạo. Thân phụ là ông Hồ Văn Đạt – một danh nho trong làng. Thân mẫu là cụ bà Trương Thị Nhâm – Pháp danh Nguyên Ngọc. Ngài khánh sanh vào tháng giêng năm Mậu Thìn – 1927 tại làng Thanh Lương, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Định. Ngài là con trai út trong gia đình có truyền thống thuần thành kính tin Phật pháp.

Do đó, trong gia tộc có những vị gọi Hòa Thượng là chú, là cậu, hiện nay cũng là giáo phẩm Phật giáo đang phục vụ đạo pháp trong và ngoài nước.

2- Xuất gia học đạo

Cũng nhờ phước duyên tiền kiếp và sống trong nếp sống truyền thống Phật giáo của gia đình nên Phật chủng được gieo trồng và nuôi dưỡng tốt tươi.

Sau khi học hết chương trình tiểu học, vào ngày 12/7 năm Ất Dậu – 1945. Hòa Thượng đã xin phép cha mẹ đi xuất gia với Hòa Thượng Thích Minh Chơn – Trụ trì chùa Từ Quang. Lúc này Hòa Thượng vừa tròn 17 tuổi.

Sau khi xuất gia, Ngài đã chuyên tâm tu học và nghiên cứu để rèn luyện ý chí của một vị xuất trần thượng sĩ.

Năm Đinh Hợi và Mậu Tý – 1947 – 1948 Hòa Thượng được Bổn Sư cho ra tu học với Hòa Thượng Thích Bảo Hiền tại Tổ đình Trùng Khánh – tỉnh Ninh Thuận.

Năm Kỷ Sửu – 1949 Ngài được Hòa Thượng Thích Bảo Hiền cho ra tu học tại Phật học Đường Phan Rang. Do Hòa Thượng Thích Trí Thắng trụ trì Tổ đình Thiên Hưng làm Giám đốc.

Đến năm Tân Mão – 1951 vì chiến cuộc ác liệt áp sát vào thị xã Phan Rang cũng như đời sống kinh tế đang khó khăn nên trường giải tán. Vì thế Hòa Thượng trở về chùa Từ Quang tiếp tục tu học và thọ Phương Trượng Sa Di lúc Ngài 23 tuổi. Nên có Pháp tự là Tuệ Hải.

Nhờ phúc duyên sẵn có nên năm Nhâm Thìn – 1952, Hòa Thượng được Bổn Sư đưa ra nhập học ở Phật học đường Trung Phần Hải Đức tại Nha Trang do Tổng Hội Phật Học Trung Phần đào tạo được chư tôn đại đức Thích Trí Thắng, Thích Thiện Minh làm Giám đốc cùng với Ban Giáo thọ có các Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Hòa Thượng Thích Định Tuệ, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Viên Giác, Hòa Thượng Thích Từ Mãn, Hòa Thượng Thích Tra Am trực tiếp đào tạo.

Năm Bính Thân 1956, sau 04 năm Trung cấp. Nhận thấy Ngài có thể làm Pháp khí trong Phật pháp nên bổn sư cho thọ Giới Tỳ Kheo tại Đại Giới Đàn lần đầu tiên được khai mở để kỷ niệm ngày Thành Đạo – 08 tháng Chạp do Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, kiêm Hội Trưởng Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần làm Đàn Đầu Đại Giới Đàn này và Hàng Thập Sư do Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa gồm ba Miền Trung, Nam, Bắc thỉnh cử. Trong thời gian này Ngài đương là giảng sư của tỉnh Khánh Hòa, nên được miễn khảo hạch cùng một số học tăng do Phật học viện đào tạo.

3- Hoằng Dương Đạo Pháp

Mặc dù còn đang tiếp tục học tập và đào tạo nhưng với nhu cầu Phật sự tại các tỉnh thành đến hạ tầng cơ sở sau nhiều năm đình trệ vì chiến cuộc tiếp diễn, nên chủ trương của hai Tổng Trị sự Phật giáo Trung Phần phải vừa học vừa phải thừa hành công tác Phật sự chỉnh đốn hạ tầng về tổ chức hai mặt là tôn giáo tính và đoàn thể tính theo các tiêu chí sau đây:

1- Giáo dục kĩ thuật lãnh đạo cho các Ban trị sự.

2- Nuôi dưỡng ý chí phục vụ đạo pháp.

3- Khai thác kinh nghiệm công tác tại tỉnh hội.

4- Ý thức đầy đủ trách nhiệm hoằng pháp của Giảng sư đoàn.

5- Đề cao thành tích hoạt động các cấp Giáo Hội.

Hòa Thượng đã từng là Trưởng phái đoàn đại diện tổng trị sự trong các chuyến hoằng pháp tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Ban Mê Thuộc, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Tháng 2 năm Đinh Dậu – 1957, Ngài được Hòa Thượng Chánh Hội Trưởng Thích Thiện Minh đại diện Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần đề cử Giảng sư kiêm trụ trì và Hội trưởng chi hội đầu tiên tại Diên Khánh và kiêm nhiệm giảng sư phụ trách cả tỉnh từ Tu Bông – Vạn Giả - Ninh Hòa và Cam Ranh.

Ngoài ra Hòa Thượng được Giáo Hội Tăng Già thỉnh cử vai trò như thư ký Giáo Hội cuối thời Hòa Thượng Thích Hưng Từ làm Trị Sự Trưởng tỉnh Khánh Hòa hai nhiệm kỳ vào năm 1958 – 1961.

- Năm Tân Sửu 1962, Hòa Thượng được Tổng trị sự Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư, kiêm chánh đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Quảng Trị, thay thế Thượng tọa Thích Đức Minh theo văn thư số 311.TTS.PGTP đề ngày 14/3/1962.

- Năm Giáp Thìn 1964, Hòa Thượng lại được Viện Hóa Đạo GHPGVNTN lưu chuyển vào làm Trụ trì kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, đồng thời làm Giám đốc Trung Tiểu Học trường Bồ Đề tại thị xã Bảo Lộc.

- Năm Mậu thân 1968, Hòa Thượng xin nghỉ việc và từ đó mới có thời gian về xây dựng chánh thức Ngôi Kim Liên Bửu Tự này. Mặc dù không còn công tác Phật Sự xa xôi nữa nhưng Hòa Thượng vẫn được Giáo Hội mời tham gia Phó Đặc Ủy Tăng Sự tỉnh Khánh Hòa và cố vấn cho Ban Đại diện GHPGVNTNDK từ năm 1971 – 1981.

4- Khai Hóa Kim Liên Bửu Tự

- Y cứ theo lời dạy của Ngài Ngộ Đạt Sự “Rằng chúng ta muốn báo ân Như Lai trong thời này thì phải dõng mãnh tinh tấn, chịu cực nhọc không tiếc thân mạng để kiến lập ngôi Tam Bảo, truyền bá Phật pháp, hóa độ chúng sanh đồng vào chánh giác”.

Do vậy, từ năm 1962, Hòa Thượng xây dựng một tịnh thất nhỏ nhằm để nghiên cứu phật pháp và an dưỡng sau những tháng ngày công tác diễn giảng và Phật sự tại các tỉnh giáo hội trở về nghỉ dưỡng thời gian, một, hai tháng rồi đi lại.

- Đến năm 1968, Hòa Thượng mới xin phép Giáo hội để được nghỉ và bắt đầu xây cất chánh điện ngôi Kim Liên Bửu Tự và nhà tăng.

Do Hòa Thượng Chánh đại diện Thích Trí Nghiêm ký ngày 12/7/1968 và xây dựng đến năm 1970 mới tạm hoàn thành.

Trải qua bao gian khó Hòa Thượng vẫn luôn luôn giáo huấn, hướng dẫn sách tấn hàng phật tử xuất gia cũng như tại gia phải siêng năng tu học giữ vững đạo tâm cố gắng làm tốt đời đẹp đạo để không hổ danh là người con phật.

ChuaKimLien_1
ChuaKimLien_2

5- Viên Tịch

Than ôi! Cuộc đời như quán trọ, đến rồi đi như đại mộng thoáng qua. Trong lúc Phật sự đang hanh thông, duyên độ sanh đang thênh thang rộng mở. Sức khỏe của Ngài đang tốt. Nhưng vô thường nào có hẹn với ai.

Sau chuyến đi dự lễ khánh thành một ngôi chùa tại Thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng căn bệnh tai biến bất ngờ ập đến, khiến Người nằm đó như xa xôi diệu vời. Mặc dầu được các y bác sĩ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, Bệnh viện Chợ rẫy, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa tận tình giúp đỡ nhưng vì tuổi già sức yếu nên Ngài không thể vượt qua.

Đa đoan Phật sự một đời

Buông tay thuận thế vạn lời vô ngôn

Người về khai sáng Thiền môn

Người đi dấu tích còn tồn Tông phong

Vai trò sứ giả Như Lai của Ngài rồi cũng thuận theo đường sanh trụ dị diệt để trở về với cõi vô sanh.

Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 9 giờ 45 ngày 30/4 năm Tân Mão, nhằm ngày 1/6/2011. Trụ thế 84 tuổi đời, 54 tuổi đạo.

Đạo pháp từ đây vắng đi một người hoàng hóa, tứ chúng môn nhơn vắng một vị thầy khả kính thân thương.

Chùa Kim Liên lặng thầm bao tiếc nhớ

Chốn thiền môn một thuở dấu chân người.

NAM MÔ TÂN VIÊN TỊCH, KHAI SƠN KIM LIÊN BỬU TỰ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NGŨ THẾ, THƯỢNG QUẢNG HẠ ĐẠI TỰ TUỆ HẢI HIỆU ẤN TẠNG HÒA THƯỢNG CHI GIÁC LINH.

( Hiện tại Đại đức Thích Nhuận Thành -trụ trì, kế thừa Chùa Kim Liên Bửu Tự, thôn Đông Dinh, xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa). Điện thoại: 0905.124.122

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10883)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13531)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8827)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14923)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8578)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9035)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10234)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8979)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15105)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11833)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.