HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)

07/10/201317:15(Xem: 17184)
HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)


ChuaKimLien_HTTueHai

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ HẢI

1- Thân thế

Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 45. Pháp danh: Quảng Đại, Pháp hiệu Ấn tạng, Pháp tự Tuệ Hải, thế danh là Hồ Văn Đạo. Thân phụ là ông Hồ Văn Đạt – một danh nho trong làng. Thân mẫu là cụ bà Trương Thị Nhâm – Pháp danh Nguyên Ngọc. Ngài khánh sanh vào tháng giêng năm Mậu Thìn – 1927 tại làng Thanh Lương, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Định. Ngài là con trai út trong gia đình có truyền thống thuần thành kính tin Phật pháp.

Do đó, trong gia tộc có những vị gọi Hòa Thượng là chú, là cậu, hiện nay cũng là giáo phẩm Phật giáo đang phục vụ đạo pháp trong và ngoài nước.

2- Xuất gia học đạo

Cũng nhờ phước duyên tiền kiếp và sống trong nếp sống truyền thống Phật giáo của gia đình nên Phật chủng được gieo trồng và nuôi dưỡng tốt tươi.

Sau khi học hết chương trình tiểu học, vào ngày 12/7 năm Ất Dậu – 1945. Hòa Thượng đã xin phép cha mẹ đi xuất gia với Hòa Thượng Thích Minh Chơn – Trụ trì chùa Từ Quang. Lúc này Hòa Thượng vừa tròn 17 tuổi.

Sau khi xuất gia, Ngài đã chuyên tâm tu học và nghiên cứu để rèn luyện ý chí của một vị xuất trần thượng sĩ.

Năm Đinh Hợi và Mậu Tý – 1947 – 1948 Hòa Thượng được Bổn Sư cho ra tu học với Hòa Thượng Thích Bảo Hiền tại Tổ đình Trùng Khánh – tỉnh Ninh Thuận.

Năm Kỷ Sửu – 1949 Ngài được Hòa Thượng Thích Bảo Hiền cho ra tu học tại Phật học Đường Phan Rang. Do Hòa Thượng Thích Trí Thắng trụ trì Tổ đình Thiên Hưng làm Giám đốc.

Đến năm Tân Mão – 1951 vì chiến cuộc ác liệt áp sát vào thị xã Phan Rang cũng như đời sống kinh tế đang khó khăn nên trường giải tán. Vì thế Hòa Thượng trở về chùa Từ Quang tiếp tục tu học và thọ Phương Trượng Sa Di lúc Ngài 23 tuổi. Nên có Pháp tự là Tuệ Hải.

Nhờ phúc duyên sẵn có nên năm Nhâm Thìn – 1952, Hòa Thượng được Bổn Sư đưa ra nhập học ở Phật học đường Trung Phần Hải Đức tại Nha Trang do Tổng Hội Phật Học Trung Phần đào tạo được chư tôn đại đức Thích Trí Thắng, Thích Thiện Minh làm Giám đốc cùng với Ban Giáo thọ có các Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Hòa Thượng Thích Định Tuệ, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Viên Giác, Hòa Thượng Thích Từ Mãn, Hòa Thượng Thích Tra Am trực tiếp đào tạo.

Năm Bính Thân 1956, sau 04 năm Trung cấp. Nhận thấy Ngài có thể làm Pháp khí trong Phật pháp nên bổn sư cho thọ Giới Tỳ Kheo tại Đại Giới Đàn lần đầu tiên được khai mở để kỷ niệm ngày Thành Đạo – 08 tháng Chạp do Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, kiêm Hội Trưởng Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần làm Đàn Đầu Đại Giới Đàn này và Hàng Thập Sư do Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa gồm ba Miền Trung, Nam, Bắc thỉnh cử. Trong thời gian này Ngài đương là giảng sư của tỉnh Khánh Hòa, nên được miễn khảo hạch cùng một số học tăng do Phật học viện đào tạo.

3- Hoằng Dương Đạo Pháp

Mặc dù còn đang tiếp tục học tập và đào tạo nhưng với nhu cầu Phật sự tại các tỉnh thành đến hạ tầng cơ sở sau nhiều năm đình trệ vì chiến cuộc tiếp diễn, nên chủ trương của hai Tổng Trị sự Phật giáo Trung Phần phải vừa học vừa phải thừa hành công tác Phật sự chỉnh đốn hạ tầng về tổ chức hai mặt là tôn giáo tính và đoàn thể tính theo các tiêu chí sau đây:

1- Giáo dục kĩ thuật lãnh đạo cho các Ban trị sự.

2- Nuôi dưỡng ý chí phục vụ đạo pháp.

3- Khai thác kinh nghiệm công tác tại tỉnh hội.

4- Ý thức đầy đủ trách nhiệm hoằng pháp của Giảng sư đoàn.

5- Đề cao thành tích hoạt động các cấp Giáo Hội.

Hòa Thượng đã từng là Trưởng phái đoàn đại diện tổng trị sự trong các chuyến hoằng pháp tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Ban Mê Thuộc, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Tháng 2 năm Đinh Dậu – 1957, Ngài được Hòa Thượng Chánh Hội Trưởng Thích Thiện Minh đại diện Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần đề cử Giảng sư kiêm trụ trì và Hội trưởng chi hội đầu tiên tại Diên Khánh và kiêm nhiệm giảng sư phụ trách cả tỉnh từ Tu Bông – Vạn Giả - Ninh Hòa và Cam Ranh.

Ngoài ra Hòa Thượng được Giáo Hội Tăng Già thỉnh cử vai trò như thư ký Giáo Hội cuối thời Hòa Thượng Thích Hưng Từ làm Trị Sự Trưởng tỉnh Khánh Hòa hai nhiệm kỳ vào năm 1958 – 1961.

- Năm Tân Sửu 1962, Hòa Thượng được Tổng trị sự Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư, kiêm chánh đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Quảng Trị, thay thế Thượng tọa Thích Đức Minh theo văn thư số 311.TTS.PGTP đề ngày 14/3/1962.

- Năm Giáp Thìn 1964, Hòa Thượng lại được Viện Hóa Đạo GHPGVNTN lưu chuyển vào làm Trụ trì kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, đồng thời làm Giám đốc Trung Tiểu Học trường Bồ Đề tại thị xã Bảo Lộc.

- Năm Mậu thân 1968, Hòa Thượng xin nghỉ việc và từ đó mới có thời gian về xây dựng chánh thức Ngôi Kim Liên Bửu Tự này. Mặc dù không còn công tác Phật Sự xa xôi nữa nhưng Hòa Thượng vẫn được Giáo Hội mời tham gia Phó Đặc Ủy Tăng Sự tỉnh Khánh Hòa và cố vấn cho Ban Đại diện GHPGVNTNDK từ năm 1971 – 1981.

4- Khai Hóa Kim Liên Bửu Tự

- Y cứ theo lời dạy của Ngài Ngộ Đạt Sự “Rằng chúng ta muốn báo ân Như Lai trong thời này thì phải dõng mãnh tinh tấn, chịu cực nhọc không tiếc thân mạng để kiến lập ngôi Tam Bảo, truyền bá Phật pháp, hóa độ chúng sanh đồng vào chánh giác”.

Do vậy, từ năm 1962, Hòa Thượng xây dựng một tịnh thất nhỏ nhằm để nghiên cứu phật pháp và an dưỡng sau những tháng ngày công tác diễn giảng và Phật sự tại các tỉnh giáo hội trở về nghỉ dưỡng thời gian, một, hai tháng rồi đi lại.

- Đến năm 1968, Hòa Thượng mới xin phép Giáo hội để được nghỉ và bắt đầu xây cất chánh điện ngôi Kim Liên Bửu Tự và nhà tăng.

Do Hòa Thượng Chánh đại diện Thích Trí Nghiêm ký ngày 12/7/1968 và xây dựng đến năm 1970 mới tạm hoàn thành.

Trải qua bao gian khó Hòa Thượng vẫn luôn luôn giáo huấn, hướng dẫn sách tấn hàng phật tử xuất gia cũng như tại gia phải siêng năng tu học giữ vững đạo tâm cố gắng làm tốt đời đẹp đạo để không hổ danh là người con phật.

ChuaKimLien_1
ChuaKimLien_2

5- Viên Tịch

Than ôi! Cuộc đời như quán trọ, đến rồi đi như đại mộng thoáng qua. Trong lúc Phật sự đang hanh thông, duyên độ sanh đang thênh thang rộng mở. Sức khỏe của Ngài đang tốt. Nhưng vô thường nào có hẹn với ai.

Sau chuyến đi dự lễ khánh thành một ngôi chùa tại Thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng căn bệnh tai biến bất ngờ ập đến, khiến Người nằm đó như xa xôi diệu vời. Mặc dầu được các y bác sĩ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, Bệnh viện Chợ rẫy, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa tận tình giúp đỡ nhưng vì tuổi già sức yếu nên Ngài không thể vượt qua.

Đa đoan Phật sự một đời

Buông tay thuận thế vạn lời vô ngôn

Người về khai sáng Thiền môn

Người đi dấu tích còn tồn Tông phong

Vai trò sứ giả Như Lai của Ngài rồi cũng thuận theo đường sanh trụ dị diệt để trở về với cõi vô sanh.

Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 9 giờ 45 ngày 30/4 năm Tân Mão, nhằm ngày 1/6/2011. Trụ thế 84 tuổi đời, 54 tuổi đạo.

Đạo pháp từ đây vắng đi một người hoàng hóa, tứ chúng môn nhơn vắng một vị thầy khả kính thân thương.

Chùa Kim Liên lặng thầm bao tiếc nhớ

Chốn thiền môn một thuở dấu chân người.

NAM MÔ TÂN VIÊN TỊCH, KHAI SƠN KIM LIÊN BỬU TỰ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NGŨ THẾ, THƯỢNG QUẢNG HẠ ĐẠI TỰ TUỆ HẢI HIỆU ẤN TẠNG HÒA THƯỢNG CHI GIÁC LINH.

( Hiện tại Đại đức Thích Nhuận Thành -trụ trì, kế thừa Chùa Kim Liên Bửu Tự, thôn Đông Dinh, xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa). Điện thoại: 0905.124.122

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10868)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14304)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 26038)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15633)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9993)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 18153)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15898)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13485)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8987)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5951)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.