Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)

24/09/201319:36(Xem: 12237)
Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)
HT_Thich_Chi_Tin

LỜI TƯỞNG NIỆM
GIÁC LINH TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TÍN

Của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng nhập Bảo tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm.

Kính bạch Giác Linh Hòa thượng,

Từ Pháp giới duyên sinh vô tận, Hòa thượng hiện thân Đại sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Nước sông Hương thao thao dòng diệu sử, núi Ngự Bình gió quyện mây lành, làng Hương Thủy sáng ngời tâm Phật, đất Thần kinh duyên lành kết trái. Xứ Trầm Hương thực hành Phật đạo, một đời thọ mạng, rồi an nghỉ ngàn thu nơi cõi tạm.

Hòa thượng vốn sẵn có duyên lành, nên đã sớm phát chí xuất trần, chốn Tổ Từ Hiếu xả tục cầu chơn nêu cao chí cả, được Hòa thượng Bổn sư thế độ xuất gia, ban Pháp danh Tâm Nhẫn, tự Hành Từ, pháp hiệu Chí Tín, nối pháp dòng Thiền Liễu Quán đời thứ 43. Kể từ đó, đường giải thoát lâng lâng nhẹ gót, giữa trần gian chẳng nhiễm sắc không, việc tham dục chẳng bận lòng người Thích tử, lẽ nhiệm mầu hiển hiện trong tâm.

Sau bao năm vun bồi cội phước, nỗ lực tu hành, rèn tâm luyện trí, rồi đến độ tâm hoa khai phát, theo luật Phật định kỳ, Hòa thượng đăng đàn thọ Đại giới, giới thể châu viên, chính thức dự vào hàng cập đệ, ngôi Tam Bảo tam tôn kế vị, đạo nghiệp từ đây phát tích, xứng danh con nhà họ Thích ngàn đời. Như Cổ đức đã nói:

“Nào ai biết được trời không ấy

Một dãy non xanh hiện đã lâu”

Với tinh thần vô ngã vị tha, đạo tâm trác thế, nêu cao truyền thống hòa hợp đoàn kết, quyết tâm xây dựng Đạo pháp và góp phần thống nhất Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã cùng Tăng Ni, Phật tử Khánh Hòa tiếp nối dòng sinh mệnh 2000 năm lịch sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tỉnh hội Phật giáo Phú Khánh và Khánh Hòa ngày nay. Trải qua nhiều nhiệm kỳ, với những cống hiến cao quý, Hòa thượng là một trong những vị Tôn túc được Tăng Ni, Phật tử tín nhiệm cung thỉnh vào ngôi vị tối cao Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh nhà, được Đại hội đại biểu phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997) cung thỉnh vào ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày về cõi Phật.

Gần một phần ba thế kỷ hoằng dương Chánh pháp, làm bậc đống lương trong Phật pháp, mô phạm chốn rừng thiền, Hòa thượng là hiện thân của giới luật, là thọ mạng của Phật pháp. Trên cương vị Luật sư, Giới sư của các Giới đàn, Hòa thượng đã khai thông giới thân huệ mạng cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Qua đó, từng lớp, từng đàn giới tử, giới thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật pháp, Trưởng tử Như Lai, tiến tu giải thoát, lợi lạc hữu tình, tốt Đời đẹp Đạo, đã không ngừng đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm, hưng thịnh huy hoàng trong lòng dân tộc, để cho hoa đời hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau tỏa ngát hương.

Trong ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam bảo, là trang nghiêm Tịnh độ tại nhân gian, Hòa thượng đã kiến tạo Kim thân Phật Tổ, Tôn tượng Phật nhập Niết bàn trang nghiêm, hùng vĩ, vẫn còn hiện hữu với thời gian vô cùng, không gian vô tận. Nhất là Hòa thượng đã cùng chư Tôn đức giá phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa, Tăng Ni và Phật tử trùng tu ngôi phạm vũ Sắc Tứ Long Sơn trang nghiêm tú lệ, xứng đáng là cơ sở của Giáo hội tại địa phương.

Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tự tại tùy duyên, làm Phật sự như không hoa, độ chúng sinh như huyễn hóa, với chín ba năm hiện thế, sáu tám năm thực hành Bồ tát đạo, Đức Trưởng lão Hòa thượng đã cống hiến trọn đời cho Đạo pháp và Dân tộc, để rồi khi hạnh nguyện tròn xong, Ta bà quả mãn, Hòa thượng an nhiên thu thần viên tịch, trở về thế giới Niết bàn vô tung bất diệt.

Song công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn lưu lại thế gian, trong lòng người con Phật Việt Nam và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Quả thật: “Trăm năm trước thì ta chưa có, trăm năm sau có cũng hoàn không. Cuộc đời sắc sắc không không, chỉ còn lưu lại tấm lòng Từ bi. Giáo hội kính ghi công đạo hạnh, thế gian còn nhớ mãi bóng Chân nhân”.

Hôm nay, trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, Cố Hòa thượng hóa duyên đã mãn, trong pháp giới vô biên, Hòa thượng đã thong dong tự tại, vận thần thông đoan ngự cửu liên đài, xả Báo thân, chứng nhập Pháp thân, siêu Tịnh độ không rời uế độ. Giờ đây, trước Giác linh Hòa thượng, chúng tôi trong Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa là những người bạn đồng hành, đồng sự pháp lữ Đại thừa trong Chánh pháp, xin thắp nén huơng lòng, tưởng niệm Giác linh Hòa thượng. Nguyện cùng nhau chung lưng đâu cật để xây dựng và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Khánh Hòa ngày càng hưng thịnh, trang nghiêm vững mạnh trong lòng dân tộc. Như Cổ đức đã nói:“Một mai thân xác tiêu tan. Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời. Pháp thân lồng lộng tuyệt vời. Chiếu soi Pháp giới, rạng ngời sử xanh”. Để từ đó, Hoa đời Hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương.

Thôi, nơi thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, Giác linh Hòa thượng hãy an nhiên tự tại. Nơi Bảo tháp Sắc Tứ Long Sơn uy nghiêm, nhục thân Hòa thượng hãy an nghỉ để ngàn thu in bóng, mãnh hình hài lồng lộng tựa hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới Chân như.

Xin bái biệt Hòa thượng !

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT MA HA TÁT.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2011(Xem: 9250)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8802)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11124)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7902)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8573)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9275)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12306)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7753)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 8894)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 8953)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.