Bậc Bồ Tát hiện hữu....(T.Giải Hiền)

22/09/201320:17(Xem: 14404)
Bậc Bồ Tát hiện hữu....(T.Giải Hiền)
HT Thich Chi Tin


Bậc Bồ Tát hiện hữu

trong đời vốn bình dị đến vậy



Ôn Chí Tín đã viên tịch, chúng con muốn viết đôi dòng để tưởng nhớ đến hình ảnh một vị Bồ Tát bình dị trong đời, đạo đức sáng ngời để đàn hậu tấn chúng con phải học, phải cố mà noi theo.

Năm 1975 khi cùng quý ôn, quý thầy chùa Linh Sơn Đà Lạt về sống ở Tổ đình Long Sơn mấy tháng trước khi đất nước đổi thay, hình ảnh của Ôn đã để lại dấu ấn rất lớn trong cuộc đời của chúng con. Ôn hiền từ, lo lắng cho bao nhiêu người từ các tỉnh Tây Nguyên, miền trung lúc đó đổ dồn về thành phố Nha Trang để tìm đường vào Sài Gòn và ở kín khắp sân chùa Long Sơn. Ôn đứng ra cứu tế phát gạo, thực phẩm, quần áo… sắp xếp chỗ ăn, chỗ nằm để ổn định cuộc sống cho mọi người. Ôn như hiện thân của Phật Quan Âm cứu độ vậy.

Thời kỳ đất nước khó khăn về kinh tế, quý thầy ở Phật học viện Hải Đức và chùa Long Sơn phải đi làm thêm ở xưởng sản xuất nước tương để tự túc kinh tế, là trụ trì nhưng Ôn lại đi làm hương đăng, nấu cơm cho chúng để quý thầy có đủ thời gian tu tập, nghỉ ngơi và sản xuất. Ôn đi rồi… biết khi nào chúng con mới có thể tìm lại được hình ảnh của người thầy trụ trì giản dị và thương chúng như Ôn vậy.

Đất nước thống nhất, sinh hoạt tôn giáo bước vào một giai đoạn mới , nhiều quy định khó khăn cho việc tu học, xuất gia của tầng lớp tu sĩ nên nhiều người đã trở về đời sống bình thường, những cư sĩ “tu xuất” ấy, nhiều người trước đã biết đến Ôn, hiểu rõ lòng từ quảng đại của Ôn đã không ngại liên lạc xin Ôn giúp đỡ cuộc sống khó khăn trước mắt, Ôn đã rất hoan hỉ đem số tiền ít ỏi Phật tử cúng dường cho riêng mình để san sẻ gánh năng cùng họ. Tâm từ rộng mở của Ôn là chất liệu mà người xuất gia chúng con bây giờ cần phải nuôi lớn trong mình làm nền tảng để sống và hành đạo ở đời.

“Mấy chục năm như một ngày” Ôn vẫn âm thầm dùng lòng từ bi chân chánh để thực hành tâm hạnh Bồ Tát của mình, làm nhà từ thiện không một ai biết đến, không báo chí truyền hình, không người quảng bá loan tin, không hội đoàn, quỹ nhóm. Chỉ có Ôn, người bán hàng và bệnh nhân biết rõ việc Ôn làm. Ôn luôn đem số tiền mà Phật tử cúng dường riêng cho Ôn trong mỗi ngày để cứ đến chiều Ôn lại đem mua sữa, mua đường… rồi một mình vào bệnh viện phát cho các bệnh nhân, không cần ai biết, chẳng màng ai hay, kiên trì thực hiện tâm hạnh Bồ Tát ấy suốt cả cuộc đời. Có ai xứng đáng làm nhà Từ Thiện chân thật bằng lòng bi mẫn chúng sanh hơn Ôn được !

Cư sĩ Hà Lão Sanh và nhóm bạn của ông ở Đài Nam, Đài Loan kể cho con nghe việc họ phát tâm cúng xây dựng trụ đá A Dục ở chùa Long Sơn là vì khi họ đến Nha Trang viếng cảnh lễ Phật ở chùa, Ôn gặp họ không cần biết họ là ai, Ôn tiếp đãi cho họ ăn cơm trưa một cách bình thường nhưng tràn đầy từ bi đúng với cách mà Ôn vẫn làm thường ngày. Điều đó đã làm cho họ cảm nhận đức độ và lòng từ của một bậc trưởng lão nên họ đã phát tâm làm việc Phật sự đó tràn đầy hoan hỉ và an lạc. Bậc xuất gia chân chánh “tiếp nhơn đãi vật” là thế bình dị mà cao sang thu nhiếp được tất cả. Người xuất gia thời nay chúng con phải học và phải học nơi Ôn những điều “tầm thường” đó.

Ôn ra đi, về với chư Phật, chư tổ, trở về với quốc độ của các bậc Bồ Tát thiện nhân. Mấy chục năm, đến với cuộc đời, lo cho ngôi Tam Bảo Sắc Tứ Long Sơn, tiếp tăng độ chúng. Ôn chỉ đem đến và để lại cho người xuất gia hậu học chúng con một bài học bằng chính thân giáo của mình, bài học sống làm người xuất gia chân chánh không chức tước địa vị, thật sự giữ cho được cái thanh cao đáng quý của người tu sĩ Phật giáo. Bài học sống làm người trụ trì giữ gìn chánh Pháp, đạo phong, thương chúng, độ tăng chuyên hành Phật sự vì chúng hy sinh, lo cho Tam Bảo trường tồn, cho đạo pháp cứu trụ mà không nuôi dưỡng tâm niệm biến ngôi chùa tài sản chung của xã hội thành của riêng cho bản thân và tông môn của mình. Phải hiểu chân thật ý nghĩa phục vụ thập phương tăng để hành xử đúng mực trong chức vụ trụ trì của mình.

Bài học phải dùng lòng từ bi chân chánh của các Bậc Bồ Tát để làm việc xã hội, hoằng hóa chúng sanh không vì danh vì lợi, đến và đi trong cuộc đời một cách bình dị sáng trong của bậc xuất trần thượng sĩ.

Ôn đã để lại cả một bài học vô giá mà những người Thích tử hậu tấn chúng con phải suy ngẫm vã nỗ lực nhiệt thành, học và ứng dụng suốt một đời.

Biết bao người còn nhớ mãi hình ảnh một vị Bồ Tát bình dị trong sáng hiện hữu ở đời tỏa ngát hương trầm khắp muôn nơi. Ôn vẫn còn đó, còn mãi nơi tổ đình với hình ảnh ấy, bình dị mà cao sang đến tuyệt vời !

Thích Giải Hiền

Hội trưởng Hội Sự NghiệpTừ Thiện Minh Đức

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8789)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10035)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8438)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9242)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9465)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8972)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11227)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7980)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8798)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9465)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.