Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)

24/09/201319:36(Xem: 12823)
Lời Tưởng Niệm (Giáo Hội)
HT_Thich_Chi_Tin

LỜI TƯỞNG NIỆM
GIÁC LINH TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH CHÍ TÍN

Của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng nhập Bảo tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm.

Kính bạch Giác Linh Hòa thượng,

Từ Pháp giới duyên sinh vô tận, Hòa thượng hiện thân Đại sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Nước sông Hương thao thao dòng diệu sử, núi Ngự Bình gió quyện mây lành, làng Hương Thủy sáng ngời tâm Phật, đất Thần kinh duyên lành kết trái. Xứ Trầm Hương thực hành Phật đạo, một đời thọ mạng, rồi an nghỉ ngàn thu nơi cõi tạm.

Hòa thượng vốn sẵn có duyên lành, nên đã sớm phát chí xuất trần, chốn Tổ Từ Hiếu xả tục cầu chơn nêu cao chí cả, được Hòa thượng Bổn sư thế độ xuất gia, ban Pháp danh Tâm Nhẫn, tự Hành Từ, pháp hiệu Chí Tín, nối pháp dòng Thiền Liễu Quán đời thứ 43. Kể từ đó, đường giải thoát lâng lâng nhẹ gót, giữa trần gian chẳng nhiễm sắc không, việc tham dục chẳng bận lòng người Thích tử, lẽ nhiệm mầu hiển hiện trong tâm.

Sau bao năm vun bồi cội phước, nỗ lực tu hành, rèn tâm luyện trí, rồi đến độ tâm hoa khai phát, theo luật Phật định kỳ, Hòa thượng đăng đàn thọ Đại giới, giới thể châu viên, chính thức dự vào hàng cập đệ, ngôi Tam Bảo tam tôn kế vị, đạo nghiệp từ đây phát tích, xứng danh con nhà họ Thích ngàn đời. Như Cổ đức đã nói:

“Nào ai biết được trời không ấy

Một dãy non xanh hiện đã lâu”

Với tinh thần vô ngã vị tha, đạo tâm trác thế, nêu cao truyền thống hòa hợp đoàn kết, quyết tâm xây dựng Đạo pháp và góp phần thống nhất Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã cùng Tăng Ni, Phật tử Khánh Hòa tiếp nối dòng sinh mệnh 2000 năm lịch sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tỉnh hội Phật giáo Phú Khánh và Khánh Hòa ngày nay. Trải qua nhiều nhiệm kỳ, với những cống hiến cao quý, Hòa thượng là một trong những vị Tôn túc được Tăng Ni, Phật tử tín nhiệm cung thỉnh vào ngôi vị tối cao Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh nhà, được Đại hội đại biểu phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997) cung thỉnh vào ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày về cõi Phật.

Gần một phần ba thế kỷ hoằng dương Chánh pháp, làm bậc đống lương trong Phật pháp, mô phạm chốn rừng thiền, Hòa thượng là hiện thân của giới luật, là thọ mạng của Phật pháp. Trên cương vị Luật sư, Giới sư của các Giới đàn, Hòa thượng đã khai thông giới thân huệ mạng cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Qua đó, từng lớp, từng đàn giới tử, giới thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật pháp, Trưởng tử Như Lai, tiến tu giải thoát, lợi lạc hữu tình, tốt Đời đẹp Đạo, đã không ngừng đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm, hưng thịnh huy hoàng trong lòng dân tộc, để cho hoa đời hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau tỏa ngát hương.

Trong ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam bảo, là trang nghiêm Tịnh độ tại nhân gian, Hòa thượng đã kiến tạo Kim thân Phật Tổ, Tôn tượng Phật nhập Niết bàn trang nghiêm, hùng vĩ, vẫn còn hiện hữu với thời gian vô cùng, không gian vô tận. Nhất là Hòa thượng đã cùng chư Tôn đức giá phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa, Tăng Ni và Phật tử trùng tu ngôi phạm vũ Sắc Tứ Long Sơn trang nghiêm tú lệ, xứng đáng là cơ sở của Giáo hội tại địa phương.

Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tự tại tùy duyên, làm Phật sự như không hoa, độ chúng sinh như huyễn hóa, với chín ba năm hiện thế, sáu tám năm thực hành Bồ tát đạo, Đức Trưởng lão Hòa thượng đã cống hiến trọn đời cho Đạo pháp và Dân tộc, để rồi khi hạnh nguyện tròn xong, Ta bà quả mãn, Hòa thượng an nhiên thu thần viên tịch, trở về thế giới Niết bàn vô tung bất diệt.

Song công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn lưu lại thế gian, trong lòng người con Phật Việt Nam và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Quả thật: “Trăm năm trước thì ta chưa có, trăm năm sau có cũng hoàn không. Cuộc đời sắc sắc không không, chỉ còn lưu lại tấm lòng Từ bi. Giáo hội kính ghi công đạo hạnh, thế gian còn nhớ mãi bóng Chân nhân”.

Hôm nay, trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, Cố Hòa thượng hóa duyên đã mãn, trong pháp giới vô biên, Hòa thượng đã thong dong tự tại, vận thần thông đoan ngự cửu liên đài, xả Báo thân, chứng nhập Pháp thân, siêu Tịnh độ không rời uế độ. Giờ đây, trước Giác linh Hòa thượng, chúng tôi trong Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa là những người bạn đồng hành, đồng sự pháp lữ Đại thừa trong Chánh pháp, xin thắp nén huơng lòng, tưởng niệm Giác linh Hòa thượng. Nguyện cùng nhau chung lưng đâu cật để xây dựng và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Khánh Hòa ngày càng hưng thịnh, trang nghiêm vững mạnh trong lòng dân tộc. Như Cổ đức đã nói:“Một mai thân xác tiêu tan. Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời. Pháp thân lồng lộng tuyệt vời. Chiếu soi Pháp giới, rạng ngời sử xanh”. Để từ đó, Hoa đời Hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương.

Thôi, nơi thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, Giác linh Hòa thượng hãy an nhiên tự tại. Nơi Bảo tháp Sắc Tứ Long Sơn uy nghiêm, nhục thân Hòa thượng hãy an nghỉ để ngàn thu in bóng, mãnh hình hài lồng lộng tựa hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới Chân như.

Xin bái biệt Hòa thượng !

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT MA HA TÁT.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7593)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7693)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8708)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7563)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8477)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17072)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8640)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 9855)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8243)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9169)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.