Thiền Sư Việt Nam

27/08/201319:33(Xem: 18852)
Thiền Sư Việt Nam
Thiền Sư Việt Nam

Lời Nói Đầu

Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII, Thiền tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt Nam với Nhật Bản, Thiền tông truyền bá ở Việt Nam trước Nhật Bản đến năm thế kỷ.

Song ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền tông rất dồi dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo nàn ấy, không phải Thiền tông Việt Nam truyền bá kém cỏi hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng ta thấy Thiền tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá Phật giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ Thực Lục, Tam Tổ Hành Trạng, Nam Tông Tự Pháp Đồ v.v... cho đến Đại Tạng Kinh cũng được Trần Anh Tông sắc cho Thiền sư Pháp Loa chủ trương khắc in. Thế là ở Việt Nam đâu có thiếu kinh sách Phật giáo.

Nhưng, trong số sách này, có quyển còn, có quyển mất. Bởi vì cuối đời Trần sang nhà Hồ (1400-1407), nước ta bị giặc Minh sang đánh, rồi lại lệ thuộc Minh (1414-1427). Sử chép: “Năm 1419 quan nhà Minh tịch thu hết sách vở trong nước, các kinh điển nhà Phật đem về Kim Lăng và đốt phá chùa chiền rất nhiều.” Đây là một lý do rõ rệt, khiến sách vở chúng ta nghèo nàn. Đâu những thế, mà còn đến thời Pháp thuộc ngót tám mươi năm, sách vở của ta cũng bị mang về Pháp nhiều. Rồi đến năm 1945 lại bị Nhật sang, sách vở của chúng ta lại mất một phần nữa. Thế là đã nghèo lại nghèo thêm.

Hiện giờ chúng ta tìm được chút ít tài liệu về sách sử Phật giáo của người Việt viết, phần lớn từ ở thư viện bên Pháp và thư viện bên Nhật, hoặc những bản chép tay còn sót ở trong dân chúng. Do đó muốn soạn một bộ sử Thiền sư Việt Nam thật là khó khăn vô kể.

Tuy nhiên như thế, song kể từ năm 1931 các Sư cụ Nam, Trung, Bắc đề xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đến nay (1972), ngót bốn mươi năm mà chưa có một quyển sử nào nói về Thiền sư Việt Nam. Chúng ta chỉ thấy có một cuốn sử duy nhất Việt Nam Phật Giáo Sử Lược dày không tới 250 trang, của Thượng tọa Mật Thể, in năm 1943. Trong ấy nói lược qua các thời đại Phật giáo và mỗi thời dẫn một vị Thiền sư thôi.

Lại nữa, sách vở Việt Nam thuở xưa viết bằng Hán tự, ngày nay chúng ta chuyên học quốc ngữ, nên đối với sách vở của ông cha chúng ta còn lưu lại rất là xa lạ. Nếu những vị còn một ít vốn liếng chữ Hán không nỗ lực phiên dịch thì thật là thiệt thòi cho kẻ hậu học lắm vậy. Chúng tôi tài mọn sức yếu, mà tự gán lấy một trọng trách sưu tập biên soạn thành quyển sách này, là một việc làm vượt hơn khả năng của mình. Nhưng vì bổn phận không cho phép chúng tôi dừng.

Trong khi biên soạn, chúng tôi thấy nhiều chỗ không hài lòng, vì sử liệu quá hiếm hoi, như đời Lý, phái Thảo Đường thấy ghi truyền đến mấy đời mà không có vị nào có lịch sử. Đến đời Trần, đệ tử Điều Ngự Giác Hoàng rất đông, trong ấy có sáu vị Pháp sư nổi tiếng, mà chúng ta chỉ thấy vỏn vẹn có một vị ghi trong sử. Đến như phái Trúc Lâm Yên Tử truyền mãi đến Thiền sư Hương Hải, là từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XVIII, mà chúng ta chỉ tìm được tài liệu vài ba vị Thiền sư, thật là quá thiếu sót. Nếu đã là thất truyền thì làm sao có Thiền sư Hương Hải thừa kế phái Trúc Lâm? Bằng sự truyền thừa liên tục thì sử các Thiền sư ấy ở đâu? Chỉ có thể nói sách sử thất lạc.

Trong quyển sử này, chúng tôi chỉ biên soạn đến tiền bán thế kỷ thứ XVIII, từ đó về sau vì không đủ tài liệu nên không dám soạn. Dành phần này cho người sau, khi có đủ tài liệu biên tiếp. Chúng tôi còn gặp khó khăn về niên lịch, vì các quyển sách xưa ghi chép khác nhau. Chúng tôi cố gắng tra khảo, thấy niên lịch nào hợp lý liền dùng. Nếu có sơ sót hoặc sai chạy, xin quí vị cao minh phủ chính cho. Những vị Thiền sư từ đời Trần trở về trước, chúng tôi sắp theo thứ tự thời gian, chớ không theo hệ phái.

Về phần sử có những vị vua được chánh thức thừa kế Thiền tông, nhưng vì nặng việc quốc chánh nên chúng tôi chẳng ghi. Như vua Lý Thánh Tông là đệ tử Thiền sư Thảo Đường, vua Trần Thái Tông là người thấu hiểu Thiền tông, có tác phẩm Khóa Hư Lục và Thiền Tông Chỉ Nam.

Còn một số vị Sư có tiếng mà không biết nằm trong hệ phái nào, hoặc không có tư cách một Thiền sư, chúng tôi đều không ghi vào đây.

Biên xong quyển sử này, chúng tôi rất tri ân Thượng tọa Mật Thể, ông Ngô Tất Tố v.v... nhờ các quyển sách của quí vị ấy khiến chúng tôi được dễ dàng nhiều.

Chúng tôi mong một chút công phu nhỏ bé của chúng tôi, giúp phần nào cho người Phật tử Việt Nam thấy gương tu hành của các bậc tiền bối mà noi theo, và tự thấy rõ mình đang tu theo hệ phái nào của Phật giáo.

Kính ghi,

THÍCH THANH TỪ

TU VIỆN CHÂN KHÔNG

Ngày 17 tháng 9 năm 1972

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/08/2025(Xem: 2499)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh (1923–2025) là cựu giáo sư y khoa của Y khoa Đại học Đường Sài Gòn ngày xưa. Ông cũng là một cựu Thuyền Nhân, vượt biên năm 1977. Ông vừa mới qua đời ở California, và Bs Ngô Thế Vinh có viết một bài bằng tiếng Anh về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trong cuộc đời kéo dài hơn một thế kỷ, ông là hiện thân của một trí thức đích thực, kết hợp hài hòa giữa chuyên môn y khoa và những đóng góp cho văn hóa, giáo dục, và văn học Việt Nam. Từ những ngày đầu là sinh viên y khoa tại Hà Nội, đến vai trò giáo sư danh tiếng về phẫu thuật chỉnh hình và nhi khoa tại Sài Gòn, và sau này là một học giả văn hóa tại Mỹ, hành trình của ông phản ảnh sự tận tụy không ngừng nghỉ cho giấc mơ về một Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc văn hóa. Qua bài viết này, Bs Ngô Thế Vinh ghi lại di sản đáng kinh ngạc của ông – sự nghiệp y khoa tiên phong, những tác phẩm ảnh hưởng về văn hóa Việt Nam, và tầm ảnh hưởng trường tồn với tư cách một học giả và nhà nhân văn, kết thúc bằng sự ra đi thanh thản ở t
19/08/2025(Xem: 3860)
Hôm nay con vào đọc, "Lại một mùa an cư Vắng bóng Ôn Như Huệ" Lòng cảm động làm sao, Với tình người xuất gia Dành cho bậc Tôn Sư Lời văn sao nhẹ nhàng Chứa đựng bao tình thương Thầy đã đếm từng ngày Ba mùa thu lá rụng, Đông đến rồi Xuân qua
13/08/2025(Xem: 3020)
Gương Thầy Năm Trước Còn Sầu Gió Thu (Bài viết của Ni Sư Quảng Trạm (Diệu Trạm) tưởng niệm Sư Phụ, Hòa Thượng Thích Minh Tâm) do Phật tử Nhân Thọ diễn đọc
10/06/2025(Xem: 2982)
Thầy đi buông nhẹ thân hình, Gởi hương Đức hạnh, chút Tình ngàn xưa. Mang tâm phát nguyện đại thừa, Dấu chân hoằng pháp, hạc mưa suối nguồn. Thong Dong tự tại bốn ân, Rong chơi vạn lối, tăng thân giới từ. Mây ngàn an trú tinh tu, Hoa đàm rụng cánh, giã từ về Tây.
05/06/2025(Xem: 6563)
Hòa Thượng Thích Minh Giác, Trụ Trì Chùa Vạn Hạnh, Amsterdam, Hòa Lan, vừa viên tịch
26/05/2025(Xem: 7990)
Thuốc Phật dược,Tiên đơn,Thần Thánh vị Nhiều danh y, dược sĩ thuở nghìn xưa Đã ra tay,chữa trị cứu nhiều người Được thoát khỏi,tay tử thần sắp đến. Trị đơn giản,mà hay không tưởng tượng Nhiều bệnh nhân,chỉ chờ chết mà thôi Mầu nhiệm thay, thuốc Phật được uống rồi Trừ dứt tuyệt, trăm muôn ngàn chứng bệnh. Vì ích lợi, mọi người cần hiểu đến… Hãy đem ra cứu giúp kẻ lâm nguy Nhiều bệnh căn,thầy trị mạnh cấp kỳ Có hiệu quả,chính do tôi thực nghiệm. Và cũng có, Quý thầy cô chữa trị Nhiều bệnh lành, đã kết quả thành công Gởi tặng cho, những toa thuôc nằm lòng Hầu phổ biến, giúp bệnh nhân thống khổ.
01/05/2025(Xem: 2639)
Thuở hiếu thời, tôi đã được học hiểu về nhân sinh quan, vũ trụ quan qua tư tưởng, triết lý và sự chứng ngộ giải thoát dựa trên nền tảng Tứ Diệu Đế. Tôi cũng từng được học biết những bài học đầu tiên về 5 thừa trong Phật giáo: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. Tuy nhiên, thú thật trong đời sống của chú Sa Di, tôi chưa thật sự thấu hiểu hết những điều đã học. Đến khi khôn lớn hơn, có thêm trải nghiệm đôi chút về Khổ, Tập, Diệt, Đạo qua rau, cà, dưa, muối, thì tôi lại càng mù mịt hơn... Dường như những lý sự ấy vẫn chưa có lối vào trong tôi...
01/05/2025(Xem: 4213)
“Có thể nói, may mắn lớn nhất của tôi khi đặt chân đến Mỹ là được tiếp tục tu học tại Như Lai Thiền Tự- San Diego. Hòa Thượng Viện Chủ nơi đây là một vị Cha thứ hai của tôi. Ngài đã hy sinh, bươn chải, gồng gánh nhiều Phật sự lớn lao, để cho một chồi măng Tăng như tôi được tiếp tục theo đuổi ước mơ đến trường của mình...” – Chia sẻ của Thượng Tọa Thích Thường Tín. Với ứng dụng công nghệ hiện đại từ internet, vào Google gõ từ khóa “Chaplain Tommy Nguyen”, chúng ta sẽ dễ dàng tìm thấy thông tin về Nhà Sư Tuyên Úy- Thượng Tọa Thích Thường Tín. Thầy còn có đạo hiệu là Thích Tuệ Hạnh được Đại lão Hòa Thượng Trúc Lâm- Thiền Sư Thích Thanh Từ ban cho năm 1997.