Như áng mây bay

14/08/201308:00(Xem: 10982)
Như áng mây bay

HT_Tri_Thu_8NHƯ ÁNG MÂY BAY

(Ngưỡng vọng hòa thượng ân sư Thích Trí Thủ)

Pháp tử: TỊNH MINH




Những ai đã được Ôn Già Lam dưỡng dục tại ba Phật Học Viên: Báo Quốc Huế, Hải Đức Nha Trang, và Quảng Hương Già Lam Sài Gòn thì khó mà bộc bạch hết tâm tư tình cảm của mình về ân đức sâu dày của Người. Riêng Tịnh Minh thì được Ôn hạ cố về nhiều phương diện, trong đó có một việc mà lâu nay Tịnh Minh muốn giữ kín, muốn che dấu đi cái lỗi lầm vụng dại của chính mình, nhưng nó cứ râm ran, nhoi nhói mỗi khi nghĩ đến Ôn Già Lam. Vốn là thế này:

Khoảng năm 1972 hay 1973 gì đó, tôi phụ trách việc hô canh khuya, thay thầy Đồng Tiến đi làm Hiệu trưởng Trường Trung Học Bồ Đề Phú Yên. Một hôm, sau khi xả chuông thiền tọa, tôi vừa bước ra khỏi cửa chánh điện chùa Già Lam thì thấy Ôn ngồi trên thềm tam cấp. Tôi chắp tay định vái chào thì Ôn vẫy vẫy tay ra hiệu tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi làm theo tín hiệu và hỏi nhỏ:

- Bạch Ôn có chuyện gì mà Ôn đợi con sớm quá vậy?

- Ngồi đây nghe ta hô canh. Lúc ở Báo Quốc, mỗi khi ta hô canh khuya thì ai cũng phải thức dậy ngồi niệm Phật, kể cả Ôn Trúc Lâm hay Ôn Linh Mụ, nằm ngủ nướng không được mô! Rồi Ôn cất giọng hô:

“Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai

Phổ nguyện đồng đăng bát nhã đài

Liễu triệt tam thừa dung nhị đế

Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.”

Giọng Ôn hô canh thật là độc đáo: chậm rãi, trầm hùng, uyển chuyển, truyền cảm, nói chung là đầy ắp hương vị thiền môn. Tôi đã âm thầm nhại theo âm điệu luyến láy của Ôn bài hô canh này, đặc biệt là câu “Liễu triệt tam thừa dung nhị đế”. Hai từ “nhị đế” được Ôn đưa hơi lên cao theo dạng tột đỉnh Parabole bên này rồi chuyển tông qua “Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai” xuống đường Parabole bên kia cho đến khi âm vọng lan xa, xa mãi theo nhịp chuông đổ hồi. Ôn biết tôi thích bắt chước theo tiết tấu của Ôn nhưng chưa đạt nên Ôn thương mến, muốn truyền lại cái âm hưởng đặc thù ấy cho tôi. Vậy mà trong thâm tâm tôi quả thật còn có chỗ vướng mắc, nên khó thẩm thấu và diễn đạt ngữ điệu một cách trọn vẹn. Ôn thấy ngay cái vô duyên vụng dại của tôi, nói trắng ra là cái tập khí u mê, ngu si dại dột của một thằng “mọi” chưa biết quý trọng kim cương hột xoàng. Ôn vỗ vai tôi, nói: “Thôi được rồi! Hôm sau tập tiếp”, rồi Ôn đứng lên về căn phòng bé nhỏ bên hông chánh điện. Từ đó đến nay, cứ mỗi lần nghĩ đến Ôn Già Lam thì lòng tôi lại dâng lên một niềm xấu hổ, tự trách mình không xứng đáng với những ân huệ mà Ôn đã dành cho mình. Nhất là khi Thầy Trí Hoằng bảo lãnh tôi đi tham quan Hoa Kỳ, nghe nói họ đòi biên lai thu thuế bất động sản của chùa, trong khi Thầy Trí Hoằng không còn ở chùa Hải Ấn, bang Connecticut nữa! Trong lúc tôi đang phân vân, buồn buồn, thì Thầy Trí Hoằng gởi Email, khích lệ: “Cứ nạp hồ sơ! Tịnh Minh đi đâu cũng có Ôn Già Lam nắm tay chỉ đường mà sợ gì!” Và đúng như vậy, khi phỏng vấn, họ chỉ hỏi tôi vài câu đại khái rồi chấp thuận hồ sơ ngay. Nhắc lại lời thầy Trí Hoằng, hai mắt tôi lại cay xè, nhòe nhoẹt, không thấy rõ nét chữ trên màn hình Computer.

Kính lạy giác linh Ôn, ước gì bây giờ được Ôn dạy hô canh trong một không gian tĩnh mịch như năm xưa, thì con sẽ ôm đầu gối Ôn, áp má lên đó mà nghe, mà luyện từng âm ba luyến láy. Tiếc thay: “Thời gian không chờ đợi ai” (Time waits for no one).

Nhân ngày về cội, và cũng là dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ôn (1909-2009), xin Ôn tha thứ cho con về cái tôi vụng dại đó để tâm tư con được nhẹ nhàng thanh thản như áng mây bay, không còn bị vướng kẹt trong vòng tư duy áy náy nữa. Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cuối Đông Mậu Tý, 2008

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9650)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28435)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13680)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9203)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16708)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12121)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20798)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17709)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12182)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.
08/04/2013(Xem: 11036)
Thế nhưng, cũng như chư vị Thiền Tổ khác, sử cũ Việt Nam ta không có quyển nào ghi chép rõ ràng; thậm chí một dòng bi ký cho thật chính xác khắc trên đá cứng cũng không có. Sách Đại Nam nhất thống chí (1910) chỉ ghi: “Chùa Từ Đàm: Ở trên gò ấp Bình An. Tương truyền chùa do Tử Thông Hòa thượng dựng, lại có tên chùa Ấn Tôn”. Lời ghi chép quá đơn sơ, lại có phần sai nữa. Tử Dung chứ đâu phải là Tử Thông? Những tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh - Quảng Nam, lại chỉ nói Ngài là: “Người Đại Thanh, qua An Nam, trác tích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn”.