Tiếng Vọng Lưng Đồi

11/08/201304:45(Xem: 10296)
Tiếng Vọng Lưng Đồi
minh_hoa_quang_duc (1)

TIẾNG VỌNG LƯNG ĐỒI
Kíng dâng giác linh Bổn sư húy thượng Tâm hạ Trí tự Viên Giác hiệu Chiếu Nhiên đại sư
Pháp tử: TỊNH MINH




Than ôi!

Biển Nam Hải chập chùng sóng bạc,

Núi Phổ Đà bát ngát đường mây,

Quán Âm đại điện còn đây,

Trời thu lãng đãng bóng Thầy khuất xa.

Xót thay! Nhớ lại năm xưa, rừng hoang u tịch, cô thân chích bóng, vượt suối trèo đèo; giữa cỏ cây đồi dốc cheo leo, tâm Bồ Tát ngại gì sương gió.

Hết lòng vì Đạo, một dạ thủy chung, canh núi ban rừng, đắp nền xe cát; nuôi hạnh cả hoằng dương chánh pháp, lập nguyện cao tự độ độ người; hai mươi năm khổ hạnh ngược xuôi, góp hoa lá trang nghiêm Phật độ.

Vừa cất chùa Giác Hải, lại xây điện Quán Âm, tiếp đào giếng Cam Lồ, xong thành lập thiền xá.

Biết bao lúc đi trong nắng hạ, lại lắm phen bước giữa giá đông, đêm hai thời tịnh chỉ nghiêm cần, ngày một bữa rau dưa đạm bạc.

Giới pháp truyền đạt, đạo nghiệp vun trồng; chí những mong liễu ngộ tâm tông, biến trần cảnh thành ra Phật cảnh.

Cất thêm nhà Tăng, xây thêm nhà giảng; rồi mở trường, đúc chuông, đào hồ, dựng tháp; thỉnh Pháp khí để hộ trì chánh pháp, xây ngọ môn để trấn át ma vương, mãi lạc quan giữa hư ảo đoạn thường, mắc thêm điện cho cảnh thêm mầu nhiệm.

Thênh thang trời biển, một dải non bồng; hoa vô ưu bừng giữa trời đông, thuyền bát nhã cập bờ Nam Hải.

Kính lạy Thầy! Chúng con nhớ mãi, cảnh đêm đêm gió mưa tơi tả, rừng âm u đổ lá lưng đèo; bờ đá rêu chập choạng lần theo, vin gậy trúc xuống đồi dạy chúng.

Từng ánh hồng rơi, từng cơn gió lộng; nét tài hoa đượm thắm nghĩa ân tình.

Dưới mái tranh nghèo, ấm vọng nhịp kinh; lời gấm dệt chắp thành thơ diễm tuyệt.

Bóng Thầy biền biệt, âm hưởng còn đây; nghĩa sắc không theo con nước vơi đầy, lý trung đạo ngược xuôi dòng nhị đế.

Thầy thường dạy chúng con: “Không là không của vô vi tuyệt đối, có là có của tuyệt đối vô vi; không là không của bát nhã chơn không, có là có của nhất thừa thực tướng. Không để tự độ, có để độ người”.

Cho hay! Giữa nhân gian trang trắng vỗ tay cười, rung thiền trượng lên đồi non nhập định.

Chao ôi! Viết sách, dịch kinh, lập chùa, độ chúng; bao công hạnh như mùa thu lá rụng, còn chăng là trong diệu nghĩa chân thường.

Dâng Thầy một nén tâm hương,

Cho vơi giọt lệ vô thường quặn đau.

Hạc vàng chừ đã bay cao,

Tùng lâm nay lại thắm bao tình người.

Ai về thăm núi Ông Sư,

Nghe trong cây cỏ tiếng cười diệu âm.

(Đầu thu năm Mậu Ngọ 1978 – trước điện Quan Âm trên đỉnh núi Ông Sư – thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 72, Đặc San Vu Lan, ngày 16/8/1997)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10712)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14227)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25940)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15557)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9925)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17953)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15778)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13386)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8825)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5870)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.