Tiếng Vọng Lưng Đồi

11/08/201304:45(Xem: 10308)
Tiếng Vọng Lưng Đồi
minh_hoa_quang_duc (1)

TIẾNG VỌNG LƯNG ĐỒI
Kíng dâng giác linh Bổn sư húy thượng Tâm hạ Trí tự Viên Giác hiệu Chiếu Nhiên đại sư
Pháp tử: TỊNH MINH




Than ôi!

Biển Nam Hải chập chùng sóng bạc,

Núi Phổ Đà bát ngát đường mây,

Quán Âm đại điện còn đây,

Trời thu lãng đãng bóng Thầy khuất xa.

Xót thay! Nhớ lại năm xưa, rừng hoang u tịch, cô thân chích bóng, vượt suối trèo đèo; giữa cỏ cây đồi dốc cheo leo, tâm Bồ Tát ngại gì sương gió.

Hết lòng vì Đạo, một dạ thủy chung, canh núi ban rừng, đắp nền xe cát; nuôi hạnh cả hoằng dương chánh pháp, lập nguyện cao tự độ độ người; hai mươi năm khổ hạnh ngược xuôi, góp hoa lá trang nghiêm Phật độ.

Vừa cất chùa Giác Hải, lại xây điện Quán Âm, tiếp đào giếng Cam Lồ, xong thành lập thiền xá.

Biết bao lúc đi trong nắng hạ, lại lắm phen bước giữa giá đông, đêm hai thời tịnh chỉ nghiêm cần, ngày một bữa rau dưa đạm bạc.

Giới pháp truyền đạt, đạo nghiệp vun trồng; chí những mong liễu ngộ tâm tông, biến trần cảnh thành ra Phật cảnh.

Cất thêm nhà Tăng, xây thêm nhà giảng; rồi mở trường, đúc chuông, đào hồ, dựng tháp; thỉnh Pháp khí để hộ trì chánh pháp, xây ngọ môn để trấn át ma vương, mãi lạc quan giữa hư ảo đoạn thường, mắc thêm điện cho cảnh thêm mầu nhiệm.

Thênh thang trời biển, một dải non bồng; hoa vô ưu bừng giữa trời đông, thuyền bát nhã cập bờ Nam Hải.

Kính lạy Thầy! Chúng con nhớ mãi, cảnh đêm đêm gió mưa tơi tả, rừng âm u đổ lá lưng đèo; bờ đá rêu chập choạng lần theo, vin gậy trúc xuống đồi dạy chúng.

Từng ánh hồng rơi, từng cơn gió lộng; nét tài hoa đượm thắm nghĩa ân tình.

Dưới mái tranh nghèo, ấm vọng nhịp kinh; lời gấm dệt chắp thành thơ diễm tuyệt.

Bóng Thầy biền biệt, âm hưởng còn đây; nghĩa sắc không theo con nước vơi đầy, lý trung đạo ngược xuôi dòng nhị đế.

Thầy thường dạy chúng con: “Không là không của vô vi tuyệt đối, có là có của tuyệt đối vô vi; không là không của bát nhã chơn không, có là có của nhất thừa thực tướng. Không để tự độ, có để độ người”.

Cho hay! Giữa nhân gian trang trắng vỗ tay cười, rung thiền trượng lên đồi non nhập định.

Chao ôi! Viết sách, dịch kinh, lập chùa, độ chúng; bao công hạnh như mùa thu lá rụng, còn chăng là trong diệu nghĩa chân thường.

Dâng Thầy một nén tâm hương,

Cho vơi giọt lệ vô thường quặn đau.

Hạc vàng chừ đã bay cao,

Tùng lâm nay lại thắm bao tình người.

Ai về thăm núi Ông Sư,

Nghe trong cây cỏ tiếng cười diệu âm.

(Đầu thu năm Mậu Ngọ 1978 – trước điện Quan Âm trên đỉnh núi Ông Sư – thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 72, Đặc San Vu Lan, ngày 16/8/1997)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10720)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12925)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7606)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10335)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9747)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10996)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9448)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9132)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 9028)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10356)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).