Điếu văn của Giáo Hội

06/08/201308:36(Xem: 14435)
Điếu văn của Giáo Hội


Suba_HaiTrieuAm_8

Điếu Văn Của Ban Tri Sự Tỉnh Hội,
Phật Giáo Lâm Đồng.
Đọc Trong Lễ Tưởng Niệm Ni Trưởng Hải Triều Âm

Kính bạch Giác linh cố Ni trưởng!
Than ôi! Sóng vỗ ngọn tùng
Hỡi ôi! Mây giăng đỉnh hạc
Trời Đại Ninh trăng mờ ánh bạc
Dòng Thiện Chí nước đọng nguồn cơn
Chín mươi bốn năm xả vọng quy chơn
Ba vạn sáu ngày yểm trần hân Tịnh.

Nhớ Giác linh xưa!
Bẩm thọ huyễn xu hai dòng Pháp – Việt
Gá thân tứ đại trụ xứ Hà Đông
Đỉnh đạc dung nghi nức tiếng Hải Phòng
Đoan chánh nhu mì thơm danh Hà Nội
Sớm được song thân chỉ đường dẫn lối
May nhờ Phật pháp biết chánh bỏ tà
Thoạt nghe phẩm Quán Âm Quảng Trần, ngộ huyền chỉ sâu xa
Vừa tụng Kinh Thế Chí Niệm Phật, bừng pháp môn vi diệu
Viết báo Bồ Đề chuyển hóa tư tưởng đồng niên thanh thiếu
In kinh từ thiện giúp đỡ đời sống trưởng ấu anh nhi
Cầu Trưởng Lão Thích Tuệ Nhuận thọ giáo quy y
Nương Hòa Thượng Thích Đức Nhuận xuất gia thế phát.

Non cao khó đón đường mây bạc
Trúc rậm khôn ngăn ngọn suối trong
Y chỉ Tỳ-kheo ni Tịnh Uyển giới đức tinh ròng
Nương náu A-lan-nhã Thanh Xuân sách đèn cần mẫn
Lìa chốn Tổ, quê hương Bắc Việt vô Nam
Giữ tông phong, ni trường Dược Sư nhập chúng
Phụng dưỡng mẹ già báo ân cúc dục
Kính nhường huynh đệ trọng nghĩa đồng liêu
Sáu năm tròn bên chùa Vạn Đức nhập thất tĩnh tu
Bảy năm chẵn nơi gác Linh Quang bế môn niệm Phật.

Giới đức lặng vào trong
Phước tướng hiện ra ngoài
Câu A-di lắng xuống trong từng hơi thở nguôi ngoai
Kệ Bát nhã ngân lên nơi mỗi hồi chuông thánh thoát
Hóa duyên chừ bát ngát
Tịnh nghiệp chừ mênh mang
Phật tử bốn phương về chiêm lễ hàng hàng
Ni chúng ba miền về quy y lớp lớp
Khai sơn nhiều ngôi thất Linh Quang, Ni Liên, Liên Hoa, Hương Sen
Xây dựng mấy kiểng chùa Dược Sư, Lăng Nghiêm, Viên Thông, Bát Nhã
Bát kỉnh pháp là giới phần tạo giềng mối cho niềm khiêm hạ
Tứ niệm xứ làm quán hạnh đặt đường lối cho pháp nhiếp tâm
Viết sách dịch kinh bối diệp nghiên tầm
Tra văn cứu Luật hãn thanh sưu tập
Cặn kẽ từng lời dạy chúng đường tu
Kỹ càng từng chữ chỉ người nẻo giác.

Vui niềm Cực Lạc
Ngán nỗi phù trần
Tứ đại rã hề cát bụi phù vân
Thần thức lìa hề căn phần dương diệm
Than ôi! Tòng lâm thạch trụ một sớm sương phơi
Hỡi ôi! Lan nhã linh đài hôm nay khói phủ
Trời Lâm Đồng mây mưa vần vũ
Đất Đại Ninh sỏi đá xôn xao
Đồ chúng mất đi bậc Thầy gieo hạt tỳ-ni hương nhũ thanh cao
Ni bộ mất đi người giữ vườn thi-la giới hạnh tinh khiết
Giáo hội Lâm Đồng ngậm ngùi tiễn biệt
Tăng già nước Việt lặng lẽ phân ưu
Ngưỡng nguyện Giác linh cửu phẩm vân du
Gia trì pháp quyến Tam môn trấn tĩnh.

Nam mô Tự Tào Động pháp phái, húy Hải Triều Âm, tự Đại Thành, hiệu Bác Tế Từ Hòa, Kim Quang Tháp đài tiền Đại Lão Ni Trưởng Giác Linh nhã giám

Thay mặt Ban tri sự tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng thành tâm ai điếu.
Tỳ Kheo Thích Nguyên Hiền (chấp bút)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8857)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10120)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8628)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9291)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9520)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 9041)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11299)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 8058)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8885)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9557)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.