Tiểu Sử và Công Hạnh

30/07/201106:58(Xem: 8878)
Tiểu Sử và Công Hạnh

Tiểu Sử và Công Hạnh

Của Trưởng Lão Hòa Thượng THÍCH HẠNH ĐẠO

(1932-2011)

I.Thân Thế

Thế danh : Nguyễn Đình Mân,

Pháp danh : Thị Uẩn,

Pháp tự : Hạnh Đạo,

Pháp hiệu : Thuần Phong,

Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Hạnh Đạo thọ sanh vào năm Nhâm Thân (1932), tại xã Bình Phục, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; trong một gia đình trung nông, nhưng đời đời thâm tín Phật pháp.

Thân phụ là cụ ông Nguyễn Đình Khâm và cụ bà Trần Thị Sa.

II.Thời kỳ xuất gia tu học

Năm 1938, Ngài lên 6 tuổi thì cụ bà thân sinh qua đời. Chứng kiến sự ra đi đột ngột của người mẹ thân yêu, Ngài sớm nhận ra sự giả tạm của cuộc đời nên xin thân phụ cho vào Chùa học đạo. Nhưng mãi đến năm Ngài 11 tuổi thân phụ mới hứa khả cho Ngài đi xuất gia. Ngài đến bái kiến Hòa Thượng thượng Trí hạ Minh, Trú trì chùa Phúc Lâm – Hội An làm Bổn Sư thế độ. Và từ đó, Ngài chính thức ở trong dòng Thiền Lâm tế, làm Trưởng tử của đức Thế Tôn.

Khi được thọ giới xong, Ngài luôn hầu cận bên Thầy để được trưởng dưỡng đạo nghiệp trong bước đầu nhập đạo. Với phong cách đỉnh đạt và say mê học hỏi, ngài thông làu kinh kệ của buổi sơ cơ, nên được Hòa thượng bổn sư thương quý, huynh đệ mến yêu.

Năm 1947, lên 15 tuổi, ngài được Hòa thượng bổn sư cho thọ giới Sa Di trong giới đàn được tổ chức ngay tại chùa Phúc Lâm – Hội An.

Năm 1951, 17 tuổi, Ngài được thầy thế độ gửi vào chùa Linh Quang, thành phố Đà Lạt để theo học văn hóa tại trường Việt Anh. Đồng thời, tại đây Ngài cũng trau dồi Phật học với hầu hết các vị giảng sư thời bấy giờ.

Đến năm 1954, đúng tuổi 20, Ngài được Bổn Sư cho phép chính thức đăng đàn thọ cụ túc giới tại giới đàn chùa Tuyền Lâm – Sài Gòn do Ngài Thích Hành Trụ, phương trượng Chùa Giác Nguyên và Chùa Đông Hưng - Sài Gòn, làm đàn đầu Hòa Thượng.

Sau khi thọ Tỳ kheo giới, đêm đêm trau dồi nội điển, ngày ngày tích đức bồi công, ngài được thầy bổn sư giao nhiều trọng trách và gánh vác nhiều Phật sự tại chùa.

III.Thời kỳ hóa đạo

Với chí nguyện thượng hoằng hạ hóa, nối bước các bậc Tổ sư, ngài không quản ngại gian lao bất từ khó nhọc, luôn xông pha vào các Phật sự được thầy tổ giao phó để đền đáp tứ ân trong muôn một.

Năm 1964 khi ngành Tuyên Úy Phật Giáo ra đời, Ngài tham dự và tốt nghiệp Khóa I Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và được công cử ra Vùng I làm Phụ Tá Tuyên Úy Quân Khu.

Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập vào đầu năm 1964, từ năm 1964 đến năm 1966, Ngài đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng.

Từ năm 1966 đến năm 1968, Ngài được công cử làm Trú Trì Chùa Báo Ân kiêm Tuyên Úy Trưởng tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tại Sài Gòn.

Từ năm 1968 đến năm 1969, Ngài được thăng cấp bậc Trung Tá và đảm nhận chức vụ Chánh Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, văn phòng đặt tại Tỉnh Cần Thơ.

Từ năm 1969 đến 1970, Ngài về trú tại chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng đãm nhận chúc vụ Phó Đại Diện Nội Vụ trong Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thị xã Đà Nẵng

Từ năm 1970 đến 1971, Ngài cùng với Hòa thượng Thích Minh Chiếu khai sơn chùa Chơn Tâm, Hòa Khánh, Đà Nẵng. Trong thời gian này được công cử đảm nhận chức vụ Giám Đốc Cơ Quan Viện Trợ CRS, là cơ quan viện trợ nhân đạo quốc tế của Hoa Kỳ.

Từ năm 1971 đến năm 1975, Ngài về Trú Trì Chùa Từ Tâm trong Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Nẵng.

Mùa thu năm 1973, Ngài kiêm nhiệm Trú trì chùa Báo Ân thuộc Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, trước Tổng Y viện Duy Tân, Đà Nẵng một thời gian và nhường lại ngôi vị này cho Hòa thượng Thích Tín Nghĩa tiếp tục lo liệu đến tháng Tư năm 1975.

Trong thời gian này Ngài cũng dạy học tại Phật Học Viện Phổ Đà, giáo sư Toán trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng.

Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, cùng chung số phận với hàng trăm ngàn Quân nhân Cán chính Việt Nam Cộng Hòa, Ngài bị Cộng Sản bắt bỏ tù từ năm 1975 cho đến năm 1985 mới được thả ra.

Sau khi ra khỏi tù Cộng Sản, Ngài về cư trú tại chùa Hưng Long, quận 10, Sài Gòn và dạy Phật Học cho Tăng, Ni của Phật Học Viện Giác Ngộ.

Đến năm 1993, Ngài được chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh sang Mỹ theo diện HO-19, là chương trình bảo lãnh Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ Hoa Kỳ bắt đầu từ mấy năm trước.

Sang Hoa Kỳ, Ngài về thường trú tại chùa Việt Nam ở thành phố Los Angeles, do Cố Hòa thượng Thích Thiên Ân khai sơn, và Cố Hòa thượng Thích Mãn Giác kế vị trú trì.

Những năm đầu tại đất khách, Ngài được cung thỉnh làm giảng sư cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, do Hòa thượng Thích Mãn Giác làm hội chủ, Hòa thượng thay mặt Tổng hội đi hoằng Pháp các nơi.

Đến năm 1996, để đáp ứng nhu cầu hoằng pháp, làm nơi quy hướng tu học cho tăng tín đồ và duy trì nền văn hóa Phật Giáo và dân tộc Việt Nam đối với cộng đồng người Việt tị nạn ngày càng gia tăng dân số tại Quận Cam, Ngài về thành phố Santa Ana khai sơn ngôi Chùa Phổ Đà và làm Viện Chủ cho đến ngày viên tịch.

Năm 1998, chùa Đông Hưng được thành lập tại thành phố Virginia Beach ngài được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho đến cuối đời.

Nhận thấy nhu cầu cần thiết trong việc quy tụ giới cư sĩ Phật Giáo để cùng nhau tu học, hộ trì Tam Bảo và góp phần phát triển Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Ngài khuyến khích, khởi xướng và sáng lập Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Với đức độ cao dày, Ngài thường được cung thỉnh làm đàn đầu Hòa thượng trong các giới đàn tổ chức tại California, như tại chùa Huệ Quang, Phật học viện Quốc Tế ... Đồng thời, ngài cũng được cung thỉnh vào ngôi vị Thiền chủ trong các khóa an cư.

Trong Đại Hội Khoáng Đại Kỳ II của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tổ chức tại Chùa Cổ Lâm thành phố Seattle, tiểu bang Washington tháng 9 năm 2000, Ngài đã được cung thỉnh vào thành viên Hội Đồng Giáo Phẩm và Cố Vấn cho Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ - Văn Phòng II Viện Hóa Đạo.

Trước tình hình khủng hoảng của Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ nói riêng và hải ngoại nói chung, vào ngày 11 và 12 tháng 1 năm 2008, Ngài đứng ra bảo trợ Đại Hội Bất Thường được tổ chức tại Chùa Phổ Đà để tiến tới việc thành lập Ban Vận Động Thành Lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ.

Trong Đại Hội Khoáng Đại Thành Lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam THống Nhất Hoa Kỳ, được tổ chức vào các ngày 20 và 21 tháng 9 năm 2008 tại Chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, miền Nam California, Ngài đã được Đại Hội cung thỉnh lên ngôi vị Thành Viên Hội Đồng Chứng Minh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ

Tháng 11 năm 2008, để tưởng niệm và hiệp kỵ chư Anh linh ngành Tuyên úy Phật giáo, đồng thời thương tưởng đến các Chiến sĩ thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh cũng như đồng bào đã tử nạn trên đường vượt biên tìm tự do … Hòa thượng đã tổ chức đại lễ Trai đàn Giải oan bạt độ và Chẩn tế cô hồn trong 3 ngày để truy tiến cầu siêu độ cho hương linh, anh linh còn đọa lạc trong chốn u đồ.

IV. Những ngày sau cùng

Sau nhiều năm sống trong cảnh tù tội dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, rồi những năm tháng hy sinh vất vả cho công tác Phật sự xây dựng nền móng ban đầu của Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, cộng với tuổi già sức yếu, Ngài đã lâm trọng bệnh vào cuối năm 2010.

Dù thân bệnh, Ngài vẫn sống những ngày tháng cuối cùng trong an tịnh với tinh thần và trí tuệ minh mẫn sáng suốt. Dự tri thời chí, nên Ngài đã sắp xếp trước mọi việc liên quan đến ngôi Tam Bảo Phổ Đà và thường xuyên khuyến tấn hàng môn đệ và Phật tử cố gắng hành trì lời Phật dạy.

Thuận thế vô thường, Ngài đã an nhiên xả báo thân, thâu thần thị tịch vào lúc 12giờ00 trưa, ngày 28 tháng 07 năm 2011 (nhằm ngày 28 tháng sáu năm Tân Mão), tại Chùa Phổ Đà, thành phố Santa Ana, miền Nam California, thế thọ 80, hạ lạp 60 năm. Nhục thân trà tỳ và Tháp thờ tại Chùa Phổ Đà, Santa Ana, California. Ngài thuộc đời thứ 42 Thiền Phái Lâm Tế và thế hệ thứ 9 Pháp Phái Chúc Thánh.

Tám mươi năm thị hiện trong cõi Ta Bà, hơn sáu mươi năm khoác áo Ca Sa hành Bồ Tát hạnh, đem đạo mầu cảm hóa tầng lớp quân nhân, lấy đức Từ Bi trị lành vết hằn chiến tranh thù hận, tranh thủ từng ngày tháng quý báu để góp phần xây dựng Phật Pháp nơi chốn tha hương, trải tấm lòng son với nước non và đạo pháp, thuận theo lẽ sinh diệt mà độ người tu chứng cảnh giới tịch diệt.

Ôi,

Kính thay công hạnh một đời,

Dấng thân Hành Đạo sáng ngời mười phương.

Ngài ra đi, Phật Giáo Việt Nam mất đi một bậc long tượng trong chốn Thiền Môn, Giáo Hội mất đi một vị Giáo Phẩm tài đức kiêm toàn, môn đồ tứ chúng mất đi một bậc Thầy khả kính.

Giờ nầy Giác linh Tôn Sư đang an vui nơi Phật quốc để lại cõi Ta Bà hàng môn đồ tứ chúng nhiều mến tiếc nhớ thương.

Nhưng than ôi !

Ai tìm vết điểu từ đâu lại,

Ai nghe tiếng sáo vọng về đâu ! ?

Đầm Tào Khê vằng vặc bóng trăng thâu,

Non Thiếu Thất xạt xào rừng mai trúc.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Tôn Sư :

Nhập tử sanh như du hý,

Xuất thế mộng tự sát na,

Bất vi bản thệ tái hiện đàm hoa,

Tịnh độ Ta Bà vãng lai tự tại,

Hóa độ chúng sanh đồng đăng giác ngạn.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế, Hải Ngoại Phổ Đà Tự Khai Sơn tịnh Trú Trì, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội Hoa Kỳ, Chứng Minh Hội Đồng Thành Viên, Húy thượng Thị hạ Uẩn, Tự Hạnh Đạo, Hiệu Thuần Phong, Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh Liên Tòa Chứng Giám.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/12/2025(Xem: 1631)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn. Cũng như một người đứng dưới chân núi, biết được những gì để dám nói về núi. Tôi không dám so sánh Thầy Tuệ Sỹ với bất kỳ ai, vì tôi không đủ kiến thức và trình độ để đối chiếu bất kỳ kho kiến thức và hành trình tu học của bất kỳ ai.
06/12/2025(Xem: 1502)
Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.
28/11/2025(Xem: 1999)
Kính bạch Giác Linh Thầy Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp. Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!
14/11/2025(Xem: 1812)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ — húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 dòng Lâm Tế — đã thuận thế vô thường, viên tịch vào ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chùa Phật Ân, Việt Nam. Ngài là bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã cống hiến trọn đời cho Phật Giáo Việt Nam, Dân Tộc, và Giáo Dục. Từ Viện Đại Học Vạn Hạnh đến các Viện Cao Đẳng Phật Học như Hải Đức – Nha Trang và Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, Ngài đã dìu dắt và đào tạo bao thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Ngài là nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển với những công trình vĩ đại như Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Thắng Man, A-hàm, Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, cùng Đại Tạng Kinh Việt Nam được phục hoạt vào năm 2021.
12/11/2025(Xem: 2018)
Hôm nay, nghe tin Người an nhiên viên tịch, con chỉ xin dâng một lời ngưỡng vọng — như đóa sen nở trong cõi lòng, tưởng nhớ bậc thầy vô hình mà con vẫn luôn thấy hiện hữu giữa ánh sáng Pháp. Dù chưa từng có duyên được diện kiến, nhưng bao năm qua, giáo pháp của Người đã như dòng suối trong mát tưới tẩm tâm hồn con giữa những tháng ngày trần thế.
11/11/2025(Xem: 2973)
Thế Danh Trần Thanh Hùng Tiểu Sử Cá Nhân, Quá Trình Xuất Gia, và Học Vấn • Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1935 tại Nam Định, Việt Nam • Trở thành Chú Tiểu, vào chùa tu học với thầy bổn sư là Hoà Thượng Thích Đức Hải (thế danh Nguyễn Bỉnh Nam), ngày 6/2/1943 • Học tại Trường Trung học Chu Văn An, Hà Nội • Tốt nghiệp Phật Học Đường Quán Sứ ở Hà Nội, Việt Nam – năm 1954 • Tị nạn chính trị từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1954 khi Việt Nam bị chia cắt 2 giữa miền Bắc và Nam • Tốt nghiệp Viện Phật học Hải Đức ở Nha Trang, Việt Nam – năm 1960 • Sang Hoa Kỳ du học năm 1965, tốt nghiệp Thạc sĩ và Tiến sĩ Chính trị học và Nghiên cứu Á châu tại Đại học Claremont Graduate, Claremont, CA năm 1969
08/11/2025(Xem: 3492)
Thuở đức Phật ngồi dưới cội bồ đề Đêm gần tàn sáng sao mai xanh biếc Khai mở con đường minh triết phương Đông Sư tử hống chấn động mười ngàn thế giới Giặc ngu tối rùng mình rũ rượi Người vượt thoát tử sinh đến bến bờ tịch tinh Trí tuệ quang minh bừng lên rạng rỡ
26/10/2025(Xem: 2686)
Kính bạch Giác linh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Ân Sư Thích Từ Thông, bậc cao Tăng thạc đức đã phụng hiến trọn gần một thế kỷ cho nền giáo dục Phật học Việt Nam. Từ xứ Nam Bán Cầu – Úc Đại Lợi, chiều ngày 17/10/2025, chúng con kính nhận tin buồn Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Từ Thông, bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam, vị Thầy mô phạm của nhiều thế hệ Tăng Ni, đã thu thần viên tịch lúc 12 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 10 năm 2025 (nhằm ngày 26 tháng 8 năm Ất Tỵ, Phật lịch 2569) tại Trường Trung Cấp Phật Học Sài Gòn, nơi Ngài gắn bó suốt 4 thập niên với cương vị Hiệu Trưởng, trụ thế 98 năm, hạ lạp 77 năm
21/10/2025(Xem: 2371)
20/10/2025: Đêm Thắp nến tưởng niệm Sư Bà Như Trí (Khai Sơn Chùa Thiên Long) nhân Lễ Húy Nhật lần 19
21/10/2025(Xem: 3437)
Từ thời say mê đọc sách trong các năm trung học, tôi đã nhìn thấy chung quanh mình như là một cõi phân đôi: thế giới thần thoại và thế giới đời thường. Cái nhìn đó vẫn theo tôi không rời, và tôi tin thật rằng các nhân vật trong truyện về các nàng Mị Nương, truyện Bích Câu Kỳ Ngộ của Việt Nam vẫn đang đi lại bên các vị thần của cổ tích Hy Lạp bên ngoài hiên nhà của tôi. Hễ tôi hé cửa nhìn ra là họ biến mất, nhưng khi khép cửa lại, tôi nghe được tiếng họ thì thầm như thúc giục tôi mở ra các trang sách để đọc về những cõi rất là thơ mộng.