Thành Phần BCM - BTC Tang Lễ

28/09/201010:35(Xem: 7875)
Thành Phần BCM - BTC Tang Lễ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP.HỒ CHÍ MINH

TU VIỆN VĨNH ĐỨC

57 Nguyễn Tuyển, P.Bình Trưng Tây, Q.2, Tp.HCM

>>>>>>

Thành Phần

BAN CHỨNG MINH - BAN TỔ CHỨC

LỄ TANG HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG TÂM

Viện chủ Tu Viện Vĩnh Đức, Quận 2 – TP. Hồ Chí Minh

***

I. BAN CHỨNG MINH:

1. Hòa thượng THÍCH HIỂN TU – Thành viên HĐCMTW. GHPGVN

2. Hòa thượng THÍCH TẮC AN – Thành viên HĐCMTW. Chứng minh BĐDPG Q.2,Q.9,Q.TĐ

3. Hòa thượng THÍCH VIÊN GIÁC – Thành viên HĐCMTW. Tr. Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM

4. Hòa thượng THÍCH TỊNH HẠNH– Uỷ viên HĐTSTW. Phó BTS THPG Tp.HCM

5. Hòa thượng THÍCH NHƯ TÍN – Phó Trưởng Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM, Trưởng Chi phái Lâm Tế Chúc Thánh phía Nam.

6. Hòa thượng THÍCH GIÁC LAI – Chứng minh Ban ĐDPG Quận 2

7. Hòa thượng THÍCH AN TẠNG – Chứng minh BQTMP.Tổ đình Sắc Tứ Từ Lâm Quảng Ngãi

II. BAN TỔ CHỨC:

Trưởng ban: Hòa thượng THÍCH TRÍ QUẢNG

Phó Chủ tịch HĐTS HGPGVN, Trưởng Ban Trị Sự THPG Tp.HCM

Phó ban Cố vấn Chỉ đạo: Hòa thượng THÍCH THIỆN TÁNH - Ủy viên Kiểm Soát HĐTS, Phó trưởng ban Thường trực BTS THPG Tp. Hồ Chí Minh

Hòa thượng THÍCH NHẬT QUANG -Ủy viên HĐTS, Phó ban kiêm Chánh Thư Ký BTS THPG Tp. Hồ Chí Minh

Phó ban Thường trực: Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH

Hòa thượng THÍCH AN ĐIỀN

Hòa thượng THÍCH ĐẠT NIỆM

Thượng tọa THÍCH HUỆ CẢNH

Ủy viên: Hòa thượng THÍCH TÂM LINH

Hòa thượng THÍCH NHỰT LIÊN

Hòa thượng THÍCH NHỰT GIÁC

Hòa thượng THÍCH NHỰT PHÁT

Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ

Thượng tọa THÍCH THIỆN HẢO

Thượng tọa THÍCH THIỆN NHÂN

Thượng tọa THÍCH MINH TRUYỀN

Điều hành tổng quát: Thượng tọa THÍCH GIÁC LIÊM

Thượng tọa THÍCH HẠNH NGỘ

Thượng tọa THÍCH VIÊN CHÁNH

Thư ký: Thượng tọa THÍCH MINH HÓA

Phó Thư ký: Thượng tọa THÍCH GIẢI THẮNG

Đại đức THÍCH QUẢNG HUY

Đại đức THÍCH PHƯỚC THÀNH

Thủ quỹ: Đại đức THÍCH HẠNH MÃN

Ni trưởng THÍCH NGUYÊN THUẬN

III. CÁC TIỂU BAN

1. Ban Nội dung: Hòa thượng THÍCH ĐẠT NIỆM

Thượng tọa THÍCH GIẢI THẮNG

Thượng tọa THÍCH GIÁC LIÊM

Đại đức THÍCH QUẢNG HUY

2. Ban Sổ tang: Thượng tọa THÍCH MINH LÝ

Đại đức THÍCH PHƯỚC THÀNH

3. Ban Xướng ngôn: Đại đức THÍCH HUỆ NGHIÊM

Đại đức THÍCH ĐỒNG NGẠN

Đại đức THÍCH HẠNH TỪ

Đại đức THÍCH LỆ THÀNH

4. Ban Tiếp tân:

a) Chư tôn đức Tăng: Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH

Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ

Thượng tọa THÍCH NHỰT GIÁC

Thượng tọa THÍCH THIỆN HẢO

Thượng tọa THÍCH TẮC HUÊ

Thượng tọa THÍCH MINH TẠO

Thượng tọa THÍCH MINH LÝ

Thượng tọa THÍCH MINH TUYỀN

b) Chư tôn đức Ni: Ni trưởng THÍCH TỊNH HÒA

Ni sư THÍCH TÂM CẢNH

Ni sư THÍCH GIÁC THÀNH

Ni sư THÍCH TỪ NHẪN

Ni sư THÍCH TỪ HẠNH

Ni sư THÍCH TỪ HƯƠNG

Ni sư THÍCH HẠNH NGỌC

c) Quan khách: Hòa thượng THÍCH ĐẠT NIỆM

Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH

Thượng tọa THÍCH HUỆ CẢNH

Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ

5. Ban Tiếp lễ: Ni trưởng THÍCH NGUYÊN THUẬN (và chư Ni - NV Phước Long)

Ni sư THÍCH MỸ THUẬN

Ni sư THÍCH GIÁC TRUNG

Sư cô THÍCH NHƯ HIỂN

Sư cô THÍCH HUỆ HƯƠNG

Sư cô THÍCH CHÚC TRANG

6. Ban Hầu Kim Quan: Thượng tọa THÍCH THIỆN Ý (Trưởng ban)

Đại đức THÍCH TUỆ HƯNG

Chư Tăng Chùa Từ Quang Q. Thủ Đức

Chư Tăng Chùa Pháp Trí Q. Thủ Đức

Học Tăng Tu viện Vĩnh Đức

7. Ban Hiếu đồ: Chư Tăng – Ni đệ tử, Phật tử Tu Viện Vĩnh Đức

8. Ban Cung nghinh rước lễ: Đại đức THÍCH HẠNH THANH (Trưởng ban)

Đại đức THÍCH QUẢNG CHÁNH

Đại đức THÍCH QUẢNG THẬT

Đại đức THÍCH TÂM CHÂU

9. Ban Trần thiết: Thượng tọa THÍCH HẠNH NGỘ (Cố vấn)

Đại đức THÍCH ĐỒNG PHÁP (Trưởng ban)

Đại đức THÍCH QUẢNG ĐẠI (Phó ban)

Đại đức THÍCH ĐỒNG GIÁC

Đại đức THÍCH THỊ PHÁT

Chư Tăng Chùa Đức Quang, Quận 4

10. Ban Hương đăng, Chung cổ: Đại đức THÍCH ĐỒNG MẪN (Trưởng ban)

Đại đức THÍCH TRUNG TU

Đại đức THÍCH HẠNH PHƯƠNG

11. Ban Trật tự: Thượng tọa THÍCH HẠNH TRÍ (Trưởng ban)

Chư Tăng Hạ trường Chùa Giác Quang Quận 4

Quý Phật tử (Nam) Tu Viện Vĩnh Đức Quận 2

12. Ban Giữ xe: Anh em Dân quân Phường Bình Trưng Tây

13. Ban Trai soạn: Đại đức THÍCH HẠNH THÁI (Trưởng ban)

Sư cô THÍCH VẠN HUỆ

Và Phật tử Tu viện Vĩnh Đức

14. Ban Hành đường: Chư Ni Chùa Bồ Đề, Chùa Linh Bửu – Q.4, Chùa Vạn Hạnh, Q.TĐ

15. Ban Thị giả: Chư Ni - Ni viện Phước Long Quận 9, Chư Ni chùa Sùng Đức và Chùa Vạn Hạnh Q. Thủ Đức

16. Ban phim ảnh, Báo chí: Đại đức THÍCH HẠNH CHÂU

Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN

Đại đức THÍCH HẠNH TUỆ

Phật tử LƯƠNG HÒA, Phật tử HUY HOÀNG

17. Ban Âm thanh Ánh sáng: Đại đức THÍCH CHÚC HUÂN (Trưởng ban)

Đại đức THÍCH ĐỒNG TRI

18. Ban Y tế: Bác sĩ LƯƠNG DUY DUÂN

Y tá NGUYỄN THỊ PHI YẾN

Cô THI và cô TRUNG

19. Ban Vận chuyển: Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG

Đại đức THÍCH HẠNH ĐẮC

Đại đức THÍCH HẠNH DŨNG

20. Ban Hậu cần: Chư Ni Chùa Thiền Tôn 1 Quận 2

Ban Tổ Chức Tang Lễ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8745)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9684)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11485)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12870)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24194)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10156)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8640)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8545)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8446)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9615)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964