Tiểu sử

28/09/201010:24(Xem: 7377)
Tiểu sử

HT_Thich_Quang_Tam_1-content

Chân Dung Hòa Thượng

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG TÂM

TRỤ TRÌ TỔ ĐÌNH SẮC TỨ TỪ LÂM – QUẢNG NGÃI

VIỆN CHỦ TU VIỆN VĨNH ĐỨC QUẬN 2 – TP. HỒ CHÍ MINH

-----oOo-----
I. Thân Thế
Hòa thượng Thích Quảng Tâm, húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học. Thân phụ là cụ ông Lê Hạnh, về sau cụ ông cũng xuất gia hành đạo và khai sơn chùa Từ Quang huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi, tức Hòa thượng Thích Pháp Bửu. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Trầm, pháp danh Chơn Hương. Hòa Thượng được sinh ra và lớn trong gia đình gồm 7 anh chị em. Ngài là con thứ 5 trong gia đình và rất hiếu thảo với cha mẹ. Tánh tình của Ngài hài hòa và rất nhanh nhẹn trong mọi công việc, đặc biệt có tiếng thông minh, hiếu học. Hòa Thượng có một người chị xuất gia, hiện là Ni trưởng Thích Từ Hương, trụ trì chùa Từ Thuyền, quận Thủ Đức.
II. Thời Kỳ Xuất Gia Tu Học
Vốn sẵn túc duyên sâu dày với Phật pháp, khi vừa tròn 14 tuổi (năm 1962), Ngài được Sư phụ và Thân mẫu cho phép xuất gia và đã được Đại lão Tăng cang Hòa thượng thượng TRÍ hạ HƯNG thâu nhận làm đệ tử và ban cho Pháp tự là GIẢI TÂM. Từ đó, Ngài theo Thầy học đạo tại Tổ đình Sắc tứ Từ Lâm, tỉnh Quảng Ngãi. Cũng năm này, Hòa thượng Bổn sư vân du hóa độ tại miền Nam, Ngài đã được Hòa thượng cho phép theo hầu và tu học tại chùa Thiên Tôn, Quận 5, Sài Gòn – Chợ Lớn.
Năm 1963, Ngài theo Hòa thượng Bổn sư đến Viện Hành Đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng – Lục Hòa Phật tử ở đường Lục Tỉnh, Phú Lâm – Chợ Lớn để hoằng đạo. Hai năm sau, Hòa thượng Bổn sư của Ngài khởi công trùng kiến ngôi chánh điện và đổi tên thành chùa Thiền Lâm.
Năm 1964 - 1965, được sự cho phép của Hòa thượng Bổn sư, Ngài vào nội trú tu học tại Phật học viện Giác Sanh do Hòa thượng Thiện Thành làm Giám viện và theo học Trung học Đệ nhất cấp. Cuối năm 1965, Ngài được Bổn sư cho phép thọ Sa di giới tại Giới đàn Phật học viện Huệ Nghiêm do Hòa thượng thượng THIỆN hạ HÒA làm Đàn đầu truyền giới. Cũng tại Giới đàn này, Ngài được sự thương mến của Hòa thượng Đàn đầu nên đã ban cho Pháp húy MINH ĐỨC, Hiệu THÍCH QUẢNG TÂM và cho theo học tại Phật Học viện Huệ Nghiêm (1966 – 1968) do Hòa Thượng THÍCH BỬU HUỆ làm Giám Viện.
Sau tết Mậu thân (1968), Ngài được Ban Giám Viện chuyển ra Phật học viện Nguyên Thiều - Bình Định để hoàn tất chương trình Trung Đẳng Phật học. Đến năm 1969, Ngài lại được Ban Giám viện chuyển vào Phật học viện Hải Đức - Nha Trang để học chương trình Cao Đẳng Phật học do Hòa thượng thượng TRÍ hạ THỦ làm Giám viện và cũng tại đây Ngài đã tốt Nghiệp Tú Tài toàn phần năm 1971.
Sau khi tốt nghiệp chương trình Phật học và thế học, năm 1972, Ngài được Ban Giám Viện và Hòa thượng Bổn sư cho phép đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Phước Huệ do Hòa thượng thượng PHÚC hạ HỘ làm Đàn đầu Hòa thượng, chính thức dự vào hàng Cập đệ, nối dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41 và được ban Pháp hiệu AN ĐỨC. Để nghiên tầm Phật lý và nâng cao nghiệp vụ làm hành trang trên bước đường hoằng hóa.
III. Thời Kỳ Hành Đạo
Thực hiện chí nguyện của Thích tử Như Lai là hoằng pháp độ sanh từ bấy lâu, năm 1972, Hòa thượng đã về vùng quê Thủ Đức mua một mảnh đất khoản 500m2lập thảo am nhỏ với tên gọi là chùa Vĩnh Đức, dân làng thường gọi là Chùa Lá. Sau năm 1975, Hòa thượng đã tích cực tham gia nhiều công tác Phật sự. Tại đây, Hòa thượng chuyên trì tụng Kinh Pháp Hoa và tham gia nhiều công tác từ thiện xã hội như: mở Ký nhi viện, mở các lớp học tình thương và giảng dạy miễn phí cho học sinh nghèo trong vùng.
Năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập, Hòa thượng vẫn tiếp tục có những đóng góp tích cực cho Phật giáo tại địa phương.
Năm 1982, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo được thành lập, Ban Đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức thành lập, Ngài được bổ nhiệm chức vụ Phó Ban đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức trong VI nhiệm kỳ từ năm 1981 – 1997, Ngài công tác Phật sự tại quận Thủ Đức .
Năm 1989, Ngài cùng nhị vị Thượng tọa lúc bấy giờ là Thượng tọa Thích Đạt Niệm, Thượng tọa Thích Thông Kinh vận động mở trường Cơ bản Phật học Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở II tại chùa Thiên Minh, huyện Thủ Đức và được Ban giám hiệu mời tham gia với chức vụ phó Văn phòng của Bản trường. Cũng trong năm này, do nhu cầu tu học của Tăng sinh trẻ ở các Tỉnh tựu hội về, Hòa thượng xin phép trùng tu và đổi tên gọi chùa thành Tu viện Vĩnh Đức, làm nơi tiếp Tăng độ chúng cho khoảng 100 Tăng sinh yên tâm tu học. Tu viện Vĩnh Đức luôn là trú xứ tu học của chư Tăng trẻ từ khắp mọi miền đất nước, dưới sự bảo bọc, chở che trong đạo tình bao dung, rộng mở của Hòa thượng. Đồng thời để thực hiện tình thần Tỳ ni tạng trụ, nơi đây hằng năm Hòa thượng đều dạy chư Tăng kiết giới An cư tại chỗ; tuy là An cư tại chỗ nhưng số lượng hành giả An cư có năm lên đến hàng trăm vị, tất cả đều tuân theo thanh quy thiền môn.
Năm 1997, huyện Thủ Đức chia thành ba cơ sở hành chánh. Hòa thượng được sự tín nhiệm của Tăng - Ni và Phật tử cung thỉnh Ngài làm Chánh Đại Diện Phật giáo Quận 9. Để tiếp tục trong sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ Tăng - Ni trẻ, Ngài mở lớp Sơ cấp Phật học liên tiếp và làm Chủ nhiệm trong 5 khóa, mỗi khóa đào tạo trên 200 Tăng Ni sinh. Với những cống hiến lớn lao đối với Đạo pháp và Nhân sinh, năm 1997, Ngài được Giáo hội Tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa. Trong nhiệm kỳ này, Hòa thượng đã đóng góp rất nhiều Phật sự quan trọng như: mở khóa An cư kiết hạ tại chùa Thiên Minh cho chư Tăng và Ni viện Phước Long cho chư Ni để chư Tăng - Ni tấn tu tam vô lậu học, tạo điều kiện cho hành giả an cư có dịp giao lưu thi diễn giảng, viết báo tường qua nhằm đó phát hiện những nhân tố mới cho Giáo hội. Đồng thời, để đáp ứng những nhu cầu tu học này, Ngài tiến hành tu bổ, xây dựng mới một số hạng mục tại chùa Thiên Minh như: đài Quan Âm lộ thiên, cổng tam quan, xây dựng Tăng xá và văn phòng Ban Đại diện Phật giáo Quận 9, vv… và đẩy mạnh các hoạt động Phật sự quận nhà.
Từ năm 2002 đến ngày viên tịch, Hòa thượng được sự tín nhiệm của quý cấp Giáo hội nên Ngài đã đảm nhiệm qua các chức vụ như: Ủy viên Ban Trị sự, Phó Thư ký kiêm phó Văn phòng, Ủy viên pháp chế rồi đến phó Ban Pháp chế Thành Hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh. Trong mỗi Phật sự, Ngài luôn hoàn thành tốt đẹp xứng đáng với sự tin tưởng mà Giáo hội giao phó. Với tinh thần“Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”trong những lần tổ chức đại giới đàn của Thành hội Phật giáo, Ngài được mời tham gia Ban quản giới tử, Phó Thư ký ban kiến đàn.
Mặc dù bận nhiều Phật sự tại Tp.Hồ Chí Minh, song với tâm nguyện của Hòa thượng vẫn luôn hướng về Phật giáo tại quê nhà, đặc biệt là Môn phong Tổ đình Sắc tứ Từ Lâm, Hòa thượng đã động viên chư Tăng tập chúng An cư kiết hạ. Năm 2007, Tổ đình Sắc tứ Từ Lâm được khôi phục, Hòa thượng đảm nhiệm cương vị trưởng Ban quản trị Môn phong kiêm Trụ trì và tổ chức hai khóa An cư kiết hạ đã tạo niềm chánh tín Tam Bảo cho hàng thiện tín và đem lại sự khởi sắc cho Phật giáo tại quê nhà.
Tháng 01 năm 2010, Hòa thượng làm Phó Ban kiến đàn cùng Chư tôn đức trong Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi tổ chức Đại giới đàn Pháp Hóa cho hơn 300 giới tử Tăng Ni cầu thọ giới pháp đã được thành tựu viên mãn. Đây là sự kiện mà sau hơn 40 năm qua chưa có điều kiện thực hiện. Trong dự nghiệp hoằng hóa lợi sanh, Hòa thượng đã để lại trong lòng Tăng Ni Phật tử những hình ảnh thân thương từ hòa khả ái. Với dáng dấp ốm gầy nhưng tràn đầy nghị lực hướng tâm vì Phật pháp, Hòa thượng đã dang đôi tay từ hòa hóa độ hàng trăm Tăng Ni, có những vị đã thành tựu được sở học và ra hành đạo khắp các tỉnh thành trong và ngoài nước. Đối với hàng Phật tử tại gia, Hòa thượng là người tận tụy hướng dẫn tham gia các công tác Phật sự, đặc biệt là công tác tự thiện xã hội và cúng dường các trường hạ trong những mùa An cư; do vậy, có cả hàng ngàn Phật tử quy hướng về Ngài.
IV. Những Ngày Cuối Đời
Với hoài bão “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh,” Ngài sẵn sàng xả ái tài kể cả sức lực để góp phần trang nghiêm ngôi nhà Chánh pháp, làm cho ngọn đèn thiền sáng tỏa tại nhân gian, góp sức đôi tay cho đạo pháp huy hoàng, chúng sanh an lạc. Tuy chí nguyện khôn cùng nhưng sức người có hạn, Hòa thượng đành gửi lại hoài bão của mình cho hàng đệ tử kế thừa. Nỗi bâng khuâng lớn nhất cuối cuộc đời Ngài là sự giáo dưỡng những huynh đệ nhỏ dại, mới xuất gia tu học và việc xây dựng ngôi chánh điện Tu viện Vĩnh Đức đang còn dang dở.
Ôi ! Năm tháng phù sinh diệc kiếp người,
Cuộc đời tựa như áng mây trôi,
Thỏng tay nhẹ gót về cảnh Phật,
Chín phẩm sen vàng tỏa ngát hương.
Thế là Hòa thượng đã thuận thế vô thường, an nhiên viên tịch lúc 15 giờ 15 phút, ngày 21 tháng Tư năm Canh Dần (nhằm ngày 03 tháng 6 năm 2010) trong sự hộ niệm chí thành và niềm kính tiếc vô hạn của Tứ chúng đệ tử. “Hạc vàng nay đã bay xa, thiền môn tứ chúng lệ nhòa trong tâm”, Ngài trụ thế 64 năm, trải qua 38 mùa An cư kiết hạ.
Sự viên tịch của Hòa thượng là niềm tiếc thương vô hạn của Giáo hội, là sự thiếu vắng một pháp lữ đồng hành trong Chánh pháp, là sự mất mát vô cùng lớn lao của Môn phong Tổ đình Sắc tứ Từ Lâm và trong nhân gian không có sự mất mát lớn lao nào hơn đối với Môn đồ đệ tử. Môn đồ tứ chúng từ đây vĩnh viễn không sao tìm lại được một bậc Thầy từ hòa khả kính. Để truy niệm công đức và đạo hạnh của Ngài, Môn phong và Môn đồ đệ tử kính ghi lại đôi dòng tiểu sử của Hòa thượng. Kính nguyện giác linh Hòa thượng thùy từ nhả giám.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chúc Thánh Tông Tứ Thập Nhất Thế, Sắc Tứ Từ Lâm Tổ Đình Phú Pháp, Khai Sơn Vĩnh Đức Tu Viện Đường Thượng, Pháp Húy NHƯ HẢO, Tự Thượng GIẢI Hạ TÂM, Hiệu AN ĐỨC, Đạo Hiệu QUẢNG TÂM, LÊ CÔNG Hòa Thượng Giác Linh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 17937)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8572)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8752)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9695)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11491)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12884)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24211)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10173)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8642)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8555)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.