Thành Kính Tưởng Niệm Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

08/04/201316:48(Xem: 7985)
Thành Kính Tưởng Niệm Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

ht thich man giac
Thành Kính Tưởng Niệm
Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

CHÙA THIÊN MINH HUẾ
Phật lịch 2550, Thiên Minh
Huế ngày 17 tháng 10 năm 2006


Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Ban Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác – Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ – Nguyên Trú trì Chùa Thiên Minh, Huế!

Chúng con vô cùng xúc động khi được tin Hòa Thượng Thích Mãn Giác – Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ – Viện Chủ Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Los Angeles – Nguyên Trú trì Chùa Thiên Minh – Huế đã thâu thần viên tịch.

Vì quá xa xôi, non nước muôn trùng, chúng con không thể nào sang đến chùa Phật Giáo Việt Nam tại Los Angeles, nơi tôn trí Kim quan Cố Hòa Thượng để đảnh lễ Giác Linh Ngài. Chúng con kính mong Ban Tổ Chức Tang Lễ thông cảm mà từ bi hoan hỷ cho.

Giờ đây, kính xin Ban Tổ Chức cho phép chùa Thiên Minh – Huế chúng con có đôi lời tác bạch trước Giác Linh Cố Hòa thượng.

Ngưỡng bái bạch Giác Linh Cố Hòa Thượng!

Tháng 08 tiết mùa thu xứ Huế, khí trời chưa lạnh nhưng lòng chúng con se thắt, buồn lạnh hơn mỗi khi tưởng kính đến Hòa Thượng.

Hôm nào đây, tại Huế, chúng con nghe tin Hòa Thượng sắp xả báo thân, đêm dài chúng con không ngủ, lo lắng từng phút giây. Thế rồi sự hồi hộp lo âu đó đã đến... Khi điện thoại reo, chúng con nhấc máy lên thì được khẩn tin Hòa Thượng đã an nhiên thâu thần thị tịch. Từ Cố Đô Huế xa xôi, lòng chúng con thật bàng hoàng thống thiết.

Ôi thật là!

Lăng già nguyệt lạc

Thạch trụ tây khuynh

Than ôi! Chùa Việt Nam tang tóc, đất Huế Đô ngậm ngùi

Mấy mươi năm hoằng pháp lợi sanh, chưa hề mỏi nhọc

Nay bổng chốc hồi quy chơn cảnh, chẳng bận trần ai

Chúng con kính nhớ Giác Linh xưa,

Thiên Minh Tự đồng chơn nhập đạo,

Báo Quốc đàn tuổi trẻ thụ phong, xuất trần thượng sĩ khiêm cung, các chốn tổ gần xa tham học, tinh chuyên một dạ thần hôn, thượng cầu hạ hóa chẳng dừng bước chân,

kịp đến lúc đạo phong đĩnh đĩnh, tuệ nghiệp huy huy.

Thì, trong Phật sự tịnh tâm gánh vác, ngoài xã hội hết dạ lo toan, quán không tính cả Niết bàn, đem tình thương Phật rải ban muôn xứ.

Mảnh Ca sa bình bát một thân, pháp giới là nhà, chúng sinh là quyến thuộc, tinh tấn nêu gương xả kỷ, thực hành hạnh nguyện lợi tha, tháng lại ngày qua hòa mình cùng vũ trụ.

Mọi nơi cất bước tung rải trăm hoa, giáo pháp Thích Ca hoằng truyền nhân thế, Đạo vàng sáng lạn, tứ chúng đồng tu.

Những tưởng rằng:

Bánh xe cửu trụ, vạn kiếp vần xoay

Nào ngờ đâu:

Cơn lốc vô thường nghìn năm vĩnh biệt.

Ôi thôi thôi!

Thiên Minh tự năm canh buồn vắng lặng

Tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm

Cực lạc quê hương, một khắc bước trở về

Đàn chúng con sụt sùi hàng lệ nhỏ.

Tâm thường bất biến, Bồ Tát vẫn lai khứ tùy duyên

Đạo thể miên trường, pháp thân vốn như như bất diệt.

Chí tâm thắp giới hương tưởng niệm, dâng cúng dường một tấc lòng thành.

Đồng âm nguyện y chỉ phụng hành, xin cung thỉnh Tôn sư chứng giám.

Ngưỡng bái bạch Giác Linh Cố Hòa Thượng!

Sự ra đi của Cố Hòa Thượng là một mất mát lớn lao không những giữa tình Linh Sơn cốt nhục, mà còn là một sự trống vắng cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia tại Chùa Thiên Minh – Huế chúng con.

Trước Linh Đài hương trầm quyện tỏa, nhìn di ảnh nhớ lại pháp âm, văng vẳng bên tai lời vàng huấn thị, âm ba xa vắng nhưng vang dội cả tầng không. Chập chờn trước mắt, thân giáo đường đường, nhân ảnh xa mờ sao vẫn uy nghi đĩnh đĩnh.

Ôi!

Ngôn ngữ nào chở hết hương đau

Đớn đau nào hơn thầy vắng bóng.

Giờ đây, giữa những khoảnh khắc sẽ biến thành thiên thu vĩnh biệt này, thay mặt Tăng chúng và toàn thể Thiện nam Tín nữ Phật tử Chùa Thiên Minh – Huế, chúng con thành kính nguyện cầu Giác Linh Cố Hòa Thượng nhủ lòng từ bi hỷ xả, tha thứ cho chúng con vì không gian xa cách không về hầu bên Kim quan của Cố Hòa Thượng trong những giây phút cuối cùng này.

Khể thủ trước Linh Đài, chúng con thành kính đảnh lễ tam bái với tấc dạ chí thành chí kính, cung nguyện Giác Linh Cố Hòa Thượng Thượng Phẩm Cao Đăng, Liên Đài Ngự Tọa.

Nam mô Tân Viên Tịch, Lâm Tế Tứ Thập Tứ Thế, húy Thượng Nguyên Hạ Cao, tự Mãn Giác, hiệu Huyền Không Hòa Thượng Giác Linh thùy từ mẫn giám.

TM. Tăng chúng và Phật Tự

Chùa Thiên Minh – Huế

Tỳ Kheo Thích Khế Chơn

Thành Tâm Đảnh Lễ.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25001)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8497)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9760)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18194)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17932)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10960)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25019)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9028)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12343)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9169)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1