Thành Kính Tưởng Niệm Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

08/04/201316:48(Xem: 7988)
Thành Kính Tưởng Niệm Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

ht thich man giac
Thành Kính Tưởng Niệm
Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

CHÙA THIÊN MINH HUẾ
Phật lịch 2550, Thiên Minh
Huế ngày 17 tháng 10 năm 2006


Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Ban Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác – Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ – Nguyên Trú trì Chùa Thiên Minh, Huế!

Chúng con vô cùng xúc động khi được tin Hòa Thượng Thích Mãn Giác – Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ – Viện Chủ Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Los Angeles – Nguyên Trú trì Chùa Thiên Minh – Huế đã thâu thần viên tịch.

Vì quá xa xôi, non nước muôn trùng, chúng con không thể nào sang đến chùa Phật Giáo Việt Nam tại Los Angeles, nơi tôn trí Kim quan Cố Hòa Thượng để đảnh lễ Giác Linh Ngài. Chúng con kính mong Ban Tổ Chức Tang Lễ thông cảm mà từ bi hoan hỷ cho.

Giờ đây, kính xin Ban Tổ Chức cho phép chùa Thiên Minh – Huế chúng con có đôi lời tác bạch trước Giác Linh Cố Hòa thượng.

Ngưỡng bái bạch Giác Linh Cố Hòa Thượng!

Tháng 08 tiết mùa thu xứ Huế, khí trời chưa lạnh nhưng lòng chúng con se thắt, buồn lạnh hơn mỗi khi tưởng kính đến Hòa Thượng.

Hôm nào đây, tại Huế, chúng con nghe tin Hòa Thượng sắp xả báo thân, đêm dài chúng con không ngủ, lo lắng từng phút giây. Thế rồi sự hồi hộp lo âu đó đã đến... Khi điện thoại reo, chúng con nhấc máy lên thì được khẩn tin Hòa Thượng đã an nhiên thâu thần thị tịch. Từ Cố Đô Huế xa xôi, lòng chúng con thật bàng hoàng thống thiết.

Ôi thật là!

Lăng già nguyệt lạc

Thạch trụ tây khuynh

Than ôi! Chùa Việt Nam tang tóc, đất Huế Đô ngậm ngùi

Mấy mươi năm hoằng pháp lợi sanh, chưa hề mỏi nhọc

Nay bổng chốc hồi quy chơn cảnh, chẳng bận trần ai

Chúng con kính nhớ Giác Linh xưa,

Thiên Minh Tự đồng chơn nhập đạo,

Báo Quốc đàn tuổi trẻ thụ phong, xuất trần thượng sĩ khiêm cung, các chốn tổ gần xa tham học, tinh chuyên một dạ thần hôn, thượng cầu hạ hóa chẳng dừng bước chân,

kịp đến lúc đạo phong đĩnh đĩnh, tuệ nghiệp huy huy.

Thì, trong Phật sự tịnh tâm gánh vác, ngoài xã hội hết dạ lo toan, quán không tính cả Niết bàn, đem tình thương Phật rải ban muôn xứ.

Mảnh Ca sa bình bát một thân, pháp giới là nhà, chúng sinh là quyến thuộc, tinh tấn nêu gương xả kỷ, thực hành hạnh nguyện lợi tha, tháng lại ngày qua hòa mình cùng vũ trụ.

Mọi nơi cất bước tung rải trăm hoa, giáo pháp Thích Ca hoằng truyền nhân thế, Đạo vàng sáng lạn, tứ chúng đồng tu.

Những tưởng rằng:

Bánh xe cửu trụ, vạn kiếp vần xoay

Nào ngờ đâu:

Cơn lốc vô thường nghìn năm vĩnh biệt.

Ôi thôi thôi!

Thiên Minh tự năm canh buồn vắng lặng

Tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm

Cực lạc quê hương, một khắc bước trở về

Đàn chúng con sụt sùi hàng lệ nhỏ.

Tâm thường bất biến, Bồ Tát vẫn lai khứ tùy duyên

Đạo thể miên trường, pháp thân vốn như như bất diệt.

Chí tâm thắp giới hương tưởng niệm, dâng cúng dường một tấc lòng thành.

Đồng âm nguyện y chỉ phụng hành, xin cung thỉnh Tôn sư chứng giám.

Ngưỡng bái bạch Giác Linh Cố Hòa Thượng!

Sự ra đi của Cố Hòa Thượng là một mất mát lớn lao không những giữa tình Linh Sơn cốt nhục, mà còn là một sự trống vắng cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia tại Chùa Thiên Minh – Huế chúng con.

Trước Linh Đài hương trầm quyện tỏa, nhìn di ảnh nhớ lại pháp âm, văng vẳng bên tai lời vàng huấn thị, âm ba xa vắng nhưng vang dội cả tầng không. Chập chờn trước mắt, thân giáo đường đường, nhân ảnh xa mờ sao vẫn uy nghi đĩnh đĩnh.

Ôi!

Ngôn ngữ nào chở hết hương đau

Đớn đau nào hơn thầy vắng bóng.

Giờ đây, giữa những khoảnh khắc sẽ biến thành thiên thu vĩnh biệt này, thay mặt Tăng chúng và toàn thể Thiện nam Tín nữ Phật tử Chùa Thiên Minh – Huế, chúng con thành kính nguyện cầu Giác Linh Cố Hòa Thượng nhủ lòng từ bi hỷ xả, tha thứ cho chúng con vì không gian xa cách không về hầu bên Kim quan của Cố Hòa Thượng trong những giây phút cuối cùng này.

Khể thủ trước Linh Đài, chúng con thành kính đảnh lễ tam bái với tấc dạ chí thành chí kính, cung nguyện Giác Linh Cố Hòa Thượng Thượng Phẩm Cao Đăng, Liên Đài Ngự Tọa.

Nam mô Tân Viên Tịch, Lâm Tế Tứ Thập Tứ Thế, húy Thượng Nguyên Hạ Cao, tự Mãn Giác, hiệu Huyền Không Hòa Thượng Giác Linh thùy từ mẫn giám.

TM. Tăng chúng và Phật Tự

Chùa Thiên Minh – Huế

Tỳ Kheo Thích Khế Chơn

Thành Tâm Đảnh Lễ.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8575)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8757)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9704)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11500)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12906)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24221)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10208)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8647)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8563)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8491)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.