Hòa Thượng Thích Đạt Hảo

28/07/201107:23(Xem: 8565)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo


HT Thich Dat Hao
HÒA THƯỢNG THÍCH ĐẠT HẢO
 


I. THÂN THẾ


Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành:

-Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi.
-Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật.
-Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo.
-Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông.
-Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang.
Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm
-Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương.
-Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.

 II. THỜI KỲ HỌC ĐẠO
Hòa thượng đã nhiều đời gieo trồng đạo giải thoát, nên được sanh trong một gia đình trung nông, phúc hậu, giàu lòng từ bi vị tha, tôn kính Tam Bảo, chí xuất trần cũng thuận duyên. Năm Tân Dậu (2) (1921), Hòa thượng được phụ thân hướng dẩn tới chùa Pháp Minh, ấp Giồng Dứa, xã Đức Hòa Thượng, cầu xin tổ Liễu Lạc (1879-1937), truyền trao quy y giới, được ban cho pháp danh Tánh Tướng. Từ đó, hằng ngày đi chùa bái sám, tụng kinh. Thời  gian sau, nhân duyên hội đủ, bèn đảnh lễ Tổ cầu xuất gia, được ban pháp hiệu Đạt Hảo, thuộc thế hệ thứ 20 dòng phái Ngọ Đình, đời thứ 22 chi phái Cao Minh Tự, đời thứ 50 tông Thiên Thai Giáo Quán.

“Lòng từ bi, chí hướng xuất trần,
Chán Ta Bà, vượt bến mê tân,
Đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước
Tầm đạo lý về chơn tự tánh”

Năm Quý Dậu (1933), Sư đã 13 tuổi, bổn sư cho thọ giới Sa Di, tại đại giới đàn chùa Pháp Hoa, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, Tỉnh Vĩnh Long. Khi đã lãnh thọ giới pháp xong, Sư càng thêm tinh tấn học tập kinh điển, luật Trường Hàng; miệt mài tập viết Hán Tự, do có hoa tay nên chữ Sư viết rất đẹp, mọi người đều ngợi khen. 
Ngày 19 tháng 2 năm Ất Hợi (1935), Sư đăng đàn thọ giới cụ túc, tại chùa Tôn Thạnh, Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (3), do tổ Liễu Thiền (1885-1956) làm Đàn đầu hòa thượng.
 Sau khi thọ lãnh đầy đủ giới pháp, được phép của bổn sư, Sư bắt đầu du phương tham học. Trải qua khắp chốn tòng lâm, hể nghe đạo tràng nào có bậc cao tăng thiền đức xiển dương khai hóa, Sư đều tìm đến cầu học như: tổ Từ Phong (  ), chùa Giác Hải, Phú Lâm, quận Sáu, Sài Gòn. Tổ chùa Thiền Lâm, Gò Kén, tỉnh Tây Ninh. Rồi lại theo ba người chị là Ni trưởng Thích Nữ Đạt Đạo, Ni trưởng Thích Nữ Đạt Thông và Ni trưởng Thích Nữ Đạt Quang lên núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh, lập động Tam Cô cạnh chùa Hang, chuyên cần tu Thiền Quán. Sau khi Ni trưởng Đạt Quang viên tịch, Ni trưởng Đạt Đạo và Đạt Thông trở về quê nhà chùa Pháp Bảo. Riêng Sư tới núi Thiên Thai, tỉnh Bà Rịa tham học với tổ Huệ Đăng (4) (1873-1953).
“Bước không mỏi, trên đường học đạo;
Chân chẳng mòn, khắp dạo trần gian.
Thiền môn mở rộng thênh thang,
Đôi dép cũ, chiếc y vàng vững chí”.

III.  THỜI KỲ HÓA ĐẠO
Năm Giáp Tuất (1934), Sư vâng lời dạy bổn sư, về xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An xây dựng và trụ trì chùa Pháp Vân.
Năm Canh Thìn (1940), Sư trở về quê hương, cải gia vi tự lập thành chùa Pháp Bảo hiện nay.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Sư hiệp cùng Ni trưởng Đạt Đạo khởi công xây dựng chùa Pháp Quang tại số 71, liên tỉnh lộ 5, phường Năm, quận Tám, Sài Gòn. Ngày 2 tháng 5 năm Ất Mùi (1955), chiến tranh giữa chánh phủ Ngô Đình Diệm và quân Bình Xuyên, chùa bị binh lửa tàn phá nặng nề. 
Năm Đinh Dậu (1957), Sư cùng các pháp lữ: Hòa thượng Đạt Hương, Hòa thượng Đạt Đồng, Hòa thượng Đạt Pháp tham dự khóa đào tạo trụ trì Như Lai Sứ Giả do Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức tại chùa Pháp Hội, quận Mười, thành phố Sài Gòn.
Năm Quý Mẹo (1963), chánh quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, Sư hướng dẫn tăng ni, Phật tử quận Tám và giáo phái Thiên Thai tích cực tham gia đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, công bằng xã hội. Sư hợp cùng Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tiếp tục đấu tranh đối với chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi dân chủ dân sinh và hòa bình độc lập cho dân tộc.
Năm Giáp Thìn (1964), Sư khởi công tái thiết lại chùa Pháp Quang. Đến năm Bính Ngọ (1966), làm lễ lạc thành vô cùng trọng thể, dưới sự chúng minh của Hòa thượng Thích Hành Trụ (5) (1903-1984) và Hòa thượng Thích Thiện Hoa (6)(1918-1973).
 Năm Đinh Mùi (1967), theo sự thỉnh cầu của Phật tử địa phương, Sư  đảm nhận công tác trùng tu chùa Châu Hưng tại xã Tam Phú, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Sau đó, Sư giao lại cho Hòa thượng Thích Đạt Đồng trụ trì, kế đến là đệ tử Thích Tắc Lãnh cư trụ cho đến ngày nay. Ngoài ra, từ năm 1966 đến 1996, Sư còn trùng tu, xây dựng thêm nhiều chùa khác như: chùa Quảng Tế tại Long Xuyên, chùa Pháp Hưng ở huyện Long Thành, chùa Pháp Thạnh ở huyện Đức Hòa, chùa Linh Phước ở quận Tám...
Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Viện trưởng viện Hóa Đạo trao quyết định cử Sư giữ chức Chánh đại diện Phật Giáo quận Tám, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm Canh Tuất (1970), Sư tái thiết chùa Pháp Giới, tại phường Hai Mươi, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Năm Nhâm Tý (1972), Sư đề cử đệ tử Thích Huệ Văn giữ chức trụ trì; đồng thời khai mở Phật học viện Pháp Giới, thâu nhận 70 tăng sinh, trong tông phái Thiên Thai Giáo Quán. Sư giữ chức Giám viện, Thượng tọa Thích Tắc Trụ làm Phó Giám viện, Đại đức Thích Huệ Văn làm Thơ ký kiêm Chúng trưởng. Chương trình học tập do Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Thiên Thai Giáo Quán Tông giảng dạy.
Năm Tân Hợi (1971), Đại Hội Khoáng Đại Kỳ I tại chùa Pháp Hội, bầu ra Ban Trị Sự Giáo Hội Thiên Thai Giáo Quán Tông, Sư được suy cử chức Trị sự phó thường trực, Hòa thượng Thích Tắc Nghi làm Trị sự trưởng, trụ sở trung ương tại chùa Pháp Hội, quận Mười, Sài Gòn.
Từ năm 1973-1975, trong phong trào xây dựng Phật Giáo Đô Thành Miền Quảng Đức Sài Gòn, Ban Đại Diện Phật Giáo 11 quận nội thành hợp tại chùa Pháp Quang, thành lập Giáo Hội Liên Quận Đô Thành, suy cử Sư giữ chức Chủ tịch, Thượng tọa Thích Tắc Thành (7) làm Phó chủ tịch, Thượng tọa Thích Hiển Pháp (8) làm Tổng thơ ký, Thượng tọa Thích Thiện Tánh và các vị Chánh đại diện các quận làm Ủy viên.Mục đích của giáo hội này là:
-Đề nghị Hội Đồng Lưỡng Viện (9) gạn lọc loại bỏ vài nhân vật trong viện Hóa Đạo biến chất, cấu kết với Đế Quốc đi ngược với đường hướng Phật Giáo và dân tộc.
-Đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, hòa bình, độc lập cho dân tộc.
-Bảo vệ hiệp định Paris.
Năm Quý Sửu (1973), Đại Hội Khoáng Đại Thiên Thai Giáo Quán Tông lần thứ II, tại chùa Pháp Hội, Sư được toàn thể Đại Hội suy cử giữ chức Trị sự trưởng Hội Đồng Trị Sự Trung Ương cho đến ngày 4-11-1981, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm Ất Mẹo (1975), khai mở Đại Giới Đàn tại chùa Pháp Giới, Sư được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng, ban Kiến Đàn gồm có: chư vị Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Đạt Hương (10), Thích Tắc Phước, truyền trao ngũ giới, sa di giới và tỳ kheo giới cho 180 giới tử. Thời kỳ khó khăn sau đất nước mới được độc lập, đây là một giới đàn lớn và thành công về mọi mặt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền nam hoàn toàn giải phóng, bắc và nam thống nhất đất nước, Ban Liên Lạc Phật Giáo Yêu Nước thành phố Hồ Chí Minh thành lập, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch, Hòa thượng Thích Hiển Pháp làm Tổng thơ ký, Sư được suy cứ chức Ủy viên chủ tịch đoàn kiêm Trưởng ban Phật Giáo Yêu Nước quận Tám. Sau này, Phật giáo 2 quận Bảy và Tám xác nhập thành quận Tám, Sư làm Trưởng ban Phật Giáo Yêu Nước quận Tám, Hòa thượng Thích Hồng Năng là Phó ban, Thượng tọa Thích Huệ Văn làm Thơ ký.
Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 11 năm 1981, tại Hà Nội, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam, Sư được suy cử vào Ủy viên Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm Nhâm Tuất (1982), Chánh đại diện Phật Giáo Quận Tám, Thích Huệ Văn cung thỉnh Sư làm Chứng Minh Ban Đại Diện.
Năm Đinh Mẹo (1987), đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Sư được Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ II và III (1987-1997) đề cử làm Ủy viên ban Tăng Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.  
Từ Năm 1984 đến 1994, Ban Đại Diện Phật Giáo quận Tám liên tục mở khóa An Cư Kiết Hạ, tại văn phòng  Ban Đại Diện chùa Pháp Quang, Sư được cử thỉnh làm Hóa Chủ kiêm Thiền Chủ.
 Từ năm 1964 đến năm 1996, Sư được tăng ni quy ngưỡng là bậc tòng lâm mô phạm, cung thỉnh làm Giới sư các đại giới đàn: chùa Pháp Liên huyện Bình Chánh (1964); chùa Pháp Quang quận Tám (1966), chùa Huệ Nghiêm huyện Bình Chánh (1969), chùa Linh Sơn quận Một (1970), chùa Quảng Đức tỉnh An Giang (1974), chùa Giác Sanh quận Mười Một (1978), chùa Ấn Quang quận Mười (1988), Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa (1992) và làm Đàn đầu hòa thượng các đại giới đàn: chùa Pháp Giới quận Tân Bình (1975), chùa Vĩnh Tràng tỉnh Tiền Giang (1995).Năm Bính Tuất (1996), Sư làm Chứng minh đại giới đàn chùa Thiên Khánh, do ban Trị Sư Tỉnh Hội Phật Giáo Long An tổ chức.
Không chỉ dừng lại ở những hoạt động Phật sư, Sư còn tham gia các hoạt động xã hội, công tác từ thiện, cứu trợ thiên tai bão lụt, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi khuyết tật, vận động đóng góp xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v... Sư cũng là một công dân yêu nước, đã góp phần xứng đáng vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được nhà nước trao tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến hạng nhất, Huân Chương Kháng Chiến chống Mỹ hạng nhì. Ngoài ra, trong giai đoạn xây dựng đất nước sau chiến tranh, Sư được Ủy Ban Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc thành phố Hồ Chí Minh và quận Tám tặng nhiều bằng khen và giấy khen.

IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH
Năm Giáp Tuất (1994), Sư đã được 77 tuổi, niên cao sức yếu, nhưng tâm nguyện hộ trì Phật pháp không hề thay đổi, nên gắng sức làm lễ khởi công xây dựng mới chùa Pháp Bảo, tại quê hương huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Năm Bính Tý (1996), hoàn thành Đại Hùng Bảo Điện. Có chút bịnh nhẹ, dường như biết trước ngày giờ viên tịch, Sư liền trở về chùa Pháp Quang, hợp các đệ tử tăng ni lại di huấn: “Huynh đệ các con nên đoàn kết chung lo Phật sự, làm tròn nhiệm vụ Giáo Hội giao phó, hóa độ chúng sanh, nối thạnh Phật chủng. Thầy đã cử xong ban trụ trì tổ đình Pháp Bảo gồm có 11 vị, nên cố gắng xây cất hoàn thành hậu Tổ.” Di chúc xong, Sư chuyên tâm niệm Phật ngày đêm không dừng nghỉ. Vào lúc 14 giờ ngày mùng 9 tháng 8 năm Bính Tý, nhầm ngày 21 tháng 9 năm 1996, Hòa thượng an tường viên tịch, thế thọ 80 tuổi, tăng lạp 60 mùa.
“Nhịp tim ngừng đập kể từ đây,
Pháp Bảo, Pháp Quang vắng bóng Thầy.
Dáng đứng trưa hè im chênh chếch,
Nghiên sầu, bút lạnh trả ngàn mây.
Tam ngươn, truyền giáo còn đâu nữa,
Tứ quý, ban cho sữa pháp đầy.
Ngũ uẩn trả về cho tứ đại,
Thầy đăng Thượng Phẩm cỏi Phương Tây”.
Hội Đồng Chứng Minh, Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh, Ban Đại Diện Phật Giáo quận Tám, hệ phái Thiên Thai Giáo Quán Tông và tứ chúng đệ tử cử hành tang lễ trang nghiêm long trọng tại chùa Pháp Quang, từ ngày 9 đến 15 tháng 8 năm Bính Tý (21-27/9/1996). Ban Chấp Hành Đảng Cộng Sản, Hội Đồng Nhà Nước, Ban Tông Giáo Chánh Phủ, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thuộc đoàn thể trung ương; Đảng Ủy, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc, Ban ngành đoàn thể thuộc thành phố Hồ Chí Minh; Các Ban Trị Sự tỉnh thành Phật Giáo, chư tôn đức tăng ni các tự viện, đoàn thể tín đồ Phật tử đều về dự lễ tang. Đặc biệt có tôn giáo bạn: Linh mục Phan Khắc Từ, các nhà thờ trong địa bàn quận Tám, quận Đức Hòa; đại diện Cao Đài Giáo, Hồi Giáo cũng đến kính viếng, phân ưu. Bảy ngày sau, cung tiễn kim quan đến đài hỏa táng tại chùa Pháp Bảo, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Linh cốt được nhập bảo tháp tại phía bên phải trước chùa Pháp Quang, bốn mùa hưong đăng thờ cúng.
Đệ tử gồm có các vị tiêu biểu như:
Thượng tọa Thích Tắc Lãnh, chùa Châu Hưng, Thủ Đức.
Đại đức Thích Tắc Bổn, chùa Pháp Bảo, Đức Hòa...
Sau  đó, Ni sư Thích Nữ Tắc Thinh tiếp tục xây cất Hậu tổ. Ngày 29 tháng 2 năm Đinh Sửu (1997), làm lễ khánh thành, làm tròn di chúc của Hòa thượng.



* TT Thích Tắc Phi (biên soạn)


Chú thích:
(1) Nay thuộc tỉnh Long An.
(2) Hòa thượng được 6 tuổi.
(3) Nay thuộc tỉnh Long An.
(4) Tổ Huệ Đăng thuộc đời thứ 41dòng thiền Lâm Tế, chi phái Liễu Quán, thế danh Lê Văn Hòa, pháp danh Thiên Thức, húy Thanh Kế, hiệu Huệ Đăng, quê ở xã An Dõng, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, miền trung Việt Nam.
(5) Sư thuộc đời thứ 42, chi phái Chúc Thánh, tông Lâm Tế, thế danh Lê An, pháp danh Thị An, hiệu Phước Bình, quê ở làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, 12 tuổi xuất gia, 22 tuổi thọ giới cụ túc. Sư vào Nam tu học. Giới đức tinh nghiêm, giảng dạy tại các trường Phật hoc, Sư được suy cử chức Giám Luật Viện Tăng Thống, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Sư tịch ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984), thế thọ 84 tuổi, tăng lạp 59 mùa.
(6) Viện trưởng viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(7) Chánh đại diện Phật Giáo quận Bảy, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(8) Chánh đại diện Phật Giáo quận Hai, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(9) Viện Tăng Thống và viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
(10) Tông trưởng tông Thiên Thai Giáo Quán.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/2017(Xem: 81903)
Bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển, chiếm tới ba tập khổ lớn trong Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, mỗi tập trên dưới 1.000 trang, mỗi trang độ 1.500 chữ, tổng cộng khoảng 4 triệu 500.000 chữ (Hán); thường được gọi là Đại Bát Nhã, mang số hiệu 220. Khoảng giữa năm 1973, theo quyết định của Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hội đồng Phiên dịch Tam Tạng gồm 18 vị được thành lập với Hòa Thượng Trí Tịnh làm Trưởng ban, Hòa Thượng Minh Châu làm Phó trưởng ban và Hòa Thượng Quảng Độ làm Tổng thư ký. Trong kỳ họp tại Viện Đại Học Vạn Hạnh vào những ngày 20, 21, 22 tháng 10 năm 1973 nhằm thảo luận phương thức, nội dung và chương trình làm việc, Hòa Thượng Thích Trí Nghiệm được Hội đồng phân công phiên dịch bộ Đại Bát Nhã 600 quyển này. Thực ra, Ngài đã tự khởi dịch bộ kinh này từ năm 1972 và khi được phân công, Ngài đã dịch được gần 100 quyển. Đây là bộ kinh lớn nhất trong Đại Tạng, đã được Ngài dịch suốt 8 năm (1972-1980) mới xong và đã dịch theo bản biệt
15/12/2017(Xem: 135183)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
15/12/2017(Xem: 188680)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
15/12/2017(Xem: 12950)
Ban Trị sự GHPGVN thị xã Ninh Hòa, môn đồ pháp quyến vô cùng kính tiết báo tin: Hòa thượng Thích Ngộ Trí. Chứng minh BTS GHPGVN thị xã Ninh Hòa. Trụ trì chùa Trường Thọ. Do niên cao lạp trưởng, Hòa thượng đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 14 giờ ngày 12/12/2017 (25/10 Đinh Dậu) tại chùa Trường Thọ, tổ dân phố 10, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Trụ thế: 75 năm, Hạ lạp: 47 năm.
27/11/2017(Xem: 27238)
Do niên cao lạp trưởng, Hoà thượng đã viên tịch vào lúc vào lúc 04h00 ngày 10 tháng 10 năm Đinh Dậu (nhằm ngày 27/11/2017) tại Quảng Hương Già Lam, 498/11 Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, trụ thế 86 Xuân Thu, 62 Hạ Lạp. Lễ nhập Kim Quan được cử hành vào lúc 19h00, ngày 10 tháng 10 năm Đinh Dậu (nhằm ngày 27/11/2017). Kim Quan được tôn trí tại Quảng Hương Già Lam, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
26/11/2017(Xem: 9166)
Chấn hưng Phật giáo hay Công cuộc Chấn hưng Phật giáo Việt Nam là một phong trào vận động cho sự phục hưng Phật giáo nhằm tìm lại các giá trị truyền thống và phát triển hoằng bá Phật giáo tại Việt Nam, bắt đầu từ đầu thế kỉ 20. Công cuộc này đã làm thay đổi rất nhiều về nội dung và hình thức hoạt động của Phật giáo tại Việt Nam.
15/11/2017(Xem: 8756)
Tổ Khánh Hòa và Thành Quả Chấn Hưng PGVN - - bài viết của HT Thích Thiện Nhơn
10/11/2017(Xem: 13437)
Malcolm Browne & bộ ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu-Trong ba biến cố cao điểm của phong trào tranh đấu Phật Giáo năm 1963—cái chết của tám Phật tử đêm 8/5/1963 tại đài phát thanh Huế, cuộc tự thiêu của HT. Quảng Đức ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn và chiến dịch “nước lũ” tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21/ 8/1963—là ba biến cố lịch sửquan trọng của phong trào Phật Giáo tranh đấu. Dưới đây là một số ảnh do phóng viên Malcome Browne, trường văn phòng đại diện AP tại Việt Nam chụp diễn tiến cuộc tự thiêu lịch sử của Hòa Thượng Thích Quảng Đức vào 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật 11 tháng 6 năm 1963. Cùng có mặt tại hiện trường với Browne là David Halberstam lúc đó là phóng viên trẻ của báo The New York Times. Halberstam cùng nhận giải thưởng Pulitzer năm 1964 với Browne nhờ bài báo nói về sự kiện này.
08/11/2017(Xem: 8828)
Do niên cao lạp trưởng, Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Sanh đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17 giờ 40 phút, ngày 07 tháng 11 năm 2017 (nhằm ngày 19 tháng 09 năm Đinh Dậu) tại chùa Khánh Sơn, 30 Ngô Gia Tự, phường 6, Tp. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Trụ thế: 82 năm, Hạ lạp: 56 năm
07/11/2017(Xem: 10464)
Đêm 18/9/ Đinh Dậu, anh em tập san Vô Ưu từ Daklak xuống cùng vài anh em từ TP ra, đã chung vui đêm thơ ca, dĩ nhiên chàng Dương và Sơn Daklak không thiếu vị cay bia bọt tại tu viện Phước Hoa -Long Thành- Đồng Nai. Sáng hôm sau, 19/9/ cũng là ngày vía đức Quán Thế Âm, ngày lễ chính thức của đại tường cố HT thượng Thông hạ Quả, lễ tạ tháp do môn đồ pháp quyến thành kính tổ chức. Chư tôn nhị bộ Tăng ni, quý Phật tử thập phương, anh em văn nghệ sĩ và chính quyền tham dự trên ngàn người.