HT. Thích Hành Trụ (1904-1984)

03/10/201013:48(Xem: 8225)
HT. Thích Hành Trụ (1904-1984)
HT. Thich Hanh Tru
HT. Thích Hành Trụ
(1904-1984) 

Hòa Thượng pháp danh là thượng Thị hạ An pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Thế danh ngài là Lê An sinh năm Giáp Thìn 1904  trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển thân mẫu là bà Nguyển Thị Sử. Ông bà có 3 người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.

Ngài xuất gia năm 12 truổi ở chùa làng, đến năm 19 tuổi được Hòa Thượng Giải Tường chùa Phước Sơn thế độ làm đệ tử và tu học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ tam đàn cụ túc giới và giữ chức thư ký trong chùa.

Với phong cách đĩnh đạt và say mê học hỏi, Ngài đã trau dồi Kinh Luật nội điển cùng quốc văn ở hầu hết các trường hạ, khóa học được tổ chức bấy giờ ở khắp các đạo tràng chùa Thiên Phước Thủ Đức năm 1934, tổ đình Bát Nhã Phú Yên năm 1935…

Gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển, Ngài vào Nam tham học ở các học đường Lưỡng Xuyên do các Hòa Thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang lãnh đạo.

Năm 1936 Ngài được tiến cử làm giáo thọ sau khóa trường hương do hội Lưỡng Xuyên Phật học tổ chức tại chùa Long Phước, Vĩnh Long. Sau đó Ngài được cử ra Huế học tại Phật học đường chùa Tường Vân, rồi đến chùa Tây Thiên với học Tăng của ba miền tham dự, do Quốc Sư Pháp Huệ làm pháp chủ giảng dạy.

Năm 1940, vì bệnh trầm trọng, Ngài phải trở về Nam điều trị và ở lại giảng dạy tại Ni trường chùa Tam Sơn Phú Nhuận.

Năm 1942, Ngài được tổ Khánh Hòa bổ về Sóc Trăng làm giáo thọ giảng dạy ở chùa Hiệp Châu, chi hội Kế Sách của hội Lưỡng Xuyên Phật học và chùa Linh Giác tại Vĩnh Long.

Năm 1945, Ngài được Hòa Thượng Vạn An đưa về làm giáo thọ giảng dạy tại chùa Hội Phước, Nha Mân, Sa Đéc. Trong thời gian ấy, Ngài làm đệ nhất yết ma đại giới đàn chùa An Phước, Châu Đốc. Sau đó, Ngài về chùa Long An ở Sa Đéc, tại đây đã kết nghĩa huynh đệ cùng ba vị Hòa Thượng Khánh Phước, Thới An và Thiện Tường. Ở Phật học đường này chư tăng khắp lục tỉnh hội tụ về đây tu học rất đông. Xuất thân từ đây có các Hòa Thượng Huệ Hưng, Hòa Thượng Từ Nhơn. . .

Năm 1946, Ngài cùng với ba vị sư đệ kết nghĩa lên Sài Gòn hợp nhau lập nên chùa Tăng Già, nay là chùa Kim Liên, để tiếp độ chúng Tăng tựu về tu học. Đây là Phật học đường đầu tiên ở đất Sài Gòn trong phong trào chấn hưng Phật giáo, mở đường cho các Phật học đường sau này phát triển.

Năm 1947, Ngài lại cùng ba vị sư đệ dựng lên ngôi già lam thứ hai là chùa Giác Nguyên để chuyển chư Tăng về đây tu học, Chùa Tăng Già trở thành trường Phật học dành cho Ni chúng. Hai đạo tràng này ngày thêm vang tiếng và Tăng Ni khắp nơi về học rất đông, đã góp phần lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo tại đất Sài Gòn bấy giờ. Ngài đảm nhiệm giám đốc Phật học đường Giác Nguyên và hóa chủ Phật học Ni trường Tăng Già.

Năm 1948, Ngài mở đại giới đàn tại Phật học đường Giác Nguyên để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni thọ trì tu học. Sau đó, Ngài được đề cử làm trưởng ban nghi lễ của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt vào năm 1951, làm chứng minh đạo sư hội Phật học Nam Việt tại chùa Xá Lợi cho đến cuối đời (1956- 1984) và làm trưởng phái đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự hội nghị Phật giáo thế giới kỳ 4 tại Nam Vang năm 1957.

Năm 1963, Ngài khai mở Phật học đường Chánh Giác tại chùa Chánh Giác ở Gia Định do Ngài làm giám đốc kiêm trụ trì. Sau đó Ngài về trụ trì thêm chùa Đông Hưng ở Thủ Thiêm và chọn nơi này làm chốn tỉnh tu nhập thất vào những mùa an cư kiết hạ.

Năm 1967 - 1969, Ngài làm giới sư các đại giới đàn Hải Đức ở phật học viện Hải Đức Nha Trang và Quảng Đức ở Phật học viện Huệ Nghiêm Sài Gòn.

Năm 1971, Ngài được suy cử làm phó chủ tịch Hội đồng giám luật Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất.

Năm 1975-1980, liên tiếp Ngài làm đàn đầu Hòa Thượng tại các giới đàn chùa Ấn Quang do Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất mở ra để truyền trao giới pháp cho giới tử toàn quốc.

Từ năm 1977- 1981 Ngài kiêm chức Tổng vụ trưởng tổng vụ tăng sự của Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất.

Năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được cung thỉnh vào làm thành viên hội đồng chứng minh trung ương.

Nhận thấy thời gian đồng hành với lão bệnh phát sinh nơi thân tứ đại, từ năm 1976 trở đi, Ngài phát nguyện nhập thất an tịnh cho đến khi về cõi Phật. Vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984) huyễn thân Ngài nhẹ nhàng chuyển hóa. Ngài trụ thế 81 năm, được 59 hạ lạp, để lại trong tâm tưởng hàng hậu tấn niềm tri ân vô hạn.

Ngài có công đức lớn trong nhiệm vụ giáo dục đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài, và truyền thừa chánh pháp qua việc phiên dịch ấn hành nhiều kinh luật phổ biến với các tác phẩm để lại:

Sa Di Luật Giải

Quy Sơn Cảnh Sách.

Tứ Phần Giới Bổn Như Thích.

Phạm Võng Bồ Tát Giới.

A Di Đà Sớ Sao.

Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên.

Kinh Hiền Nhân.

Kinh Trừ Khủng Tai Hoạn.

Tỳ Kheo Giới Kinh.

Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn.

Long Thơ Tịnh Độ.

Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư.

Nghi Thức Lễ Phật.

Sự Tích Phật Giáng Thế.

Thật vậy, Ngài là một bậc cao Tăng thời hiện đại, những công hạnh của Ngài luôn là kim chỉ nam không những cho hàng môn đồ pháp quyến mà còn cho cả những ai muốn cùng đi trên lộ trình giác ngộ. Ngài xứng đáng là đấng thạch trụ trong chốn thiền môn. Tự thân với giới đức trang nghiêm đáng là bậc mô phạm cho hàng hậu tấn.

[blockquote]Đối với Giáo Hội, Ngài có công trong việc kiến thiết các ngôi Phật học đường và trực tiếp đào tạo ra những người cộng sự ưu tú cho Đạo Pháp. Và cũng từ những Phật học đường này đã đào tạo những Tăng Ni tài đức, đủ sức tiếp tục con đường mà Chư Phật, chư Tổ đã giao phó. Đối với môn đồ pháp quyến, Ngài luôn là tấm gương sáng để chúng đệ tử noi theo, là người Thầy, người Cha dẫn dắt đàn con trẻ vượt qua mọi thử thách của cuộc đời để cùng đến bến bờ giải thoát, và cũng hoàn thành nguyện hạnh thượng hoằng hạ hóa. [/blockquote]

Chúng con kính nguyện khắc cốt ghi tâm và làm theo những gì Thầy đã chỉ dạy, để mãi mãi đi trên con đường đạo nhằm làm tốt hạnh nguyện tự lợi, lợi tha.

Giờ nầy Giác linh Tôn Sư đang an vui nơi Phật quốc để lại cõi Ta Bà hàng môn đồ chúng con nhiều mến tiếc nhớ thương.

Nhưng than ôi!

Ai tìm vết điểu từ đâu lại
Ai nghe tiếng sáo vọng về đâu

Đầm Tào Khê vằng vặc bóng trăng thâu
Non Thiếu Thất xạt xào rừng mai trúc.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Tôn Sư:

Nhập tử sanh như du hý,

Xuất thế mộng tự sát na,

Bất vi bản thệ tái hiện đàm hoa

Tịnh độ Ta Bà vãng lai tự tại

NAM MÔ ĐÔNG HƯNG ĐƯỜNG THƯỢNG TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NHỊ THẾ HÚY THƯỢNG THỊ HẠ AN, TỰ HÀNH TRỤ HIỆU PHƯỚC BÌNH, ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TÔN SƯ .


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 5959)
Viện chủ TỔ ĐÌNH SẮC TỨ TỪ QUANG (Đá Trắng - Phú Yên) Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
20/10/2019(Xem: 9520)
Thân thế: Cố Đại đức thế danh Lê Quý Trúc Bảo, sanh vào ngày 23/3/1975 trong một gia đình nhiều đời theo Phật. Trong lần gia đình di cư đầu tiên vào Nam, song thân đã sinh Đại đức (ĐĐ) tại Tam Bình, Thủ Đức, Gia Định. Thân phụ là ông Lê Quý Triết, Thân mẫu là bà Hoàng Thị Tựu; nguyên quán Trà Trì, Hải Xuân, Hải Lăng, Quảng Trị. ĐĐ sinh ra trong gia đình có 8 anh em gồm 3 người anh trai, 2 em gái và 2 người em trai. Sau 30/4/1975 gia đình trở về nguyên quán Trà Trì, Quảng Trị. Đến tháng 7/1977 gia đình của cố ĐĐ lại một lần nữa di cư vào Nam và trú ở vùng kinh tế mới tại Châu Thành, Đồng Nai. - năm 1981-1986, cố ĐĐ học trường Tiểu học Quảng Thành, Châu Thành, Đồng Nai - năm 1986-1990, cố ĐĐ học trường Trung học cơ sở Kim Long, Châu Thành, Đồng Nai.
20/10/2019(Xem: 6117)
Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong một gia đình khoa bảng nho học, nhưng dường như vốn có túc duyên nhiều đời với Phật pháp nên từ lúc thiếu thời khi còn đi học tại trường Trung học Dũng Lạc Hà Tây, Hòa thượng đã có xu hướng tìm hiểu Phật giáo. Đến năm 19 tuổi (1953) Ngài lặng lẽ từ biệt gia đình cùng người thân, từ giã nơi chôn nhau cắt rốn lần bước đi tìm thầy xuất gia cầu Đạo để hoàn thành ước nguyện của mình.
20/10/2019(Xem: 6767)
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ HẢI Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Trị Nguyên Phó trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Quảng Trị Trú trì Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang – Quảng Trị; Tổ đình Hải Đức – Huế THÂN THẾ Hòa thượng họ Võ, húy Viết Hữu, nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41, pháp danh Không Cẩn, tự Trí Hải. Hòa thượng sinh năm Tân Tỵ [1941] tại thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hòa Thượng xuất thân trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo, thân phụ là Cụ ông Võ Viết Linh – pháp danh Nguyên Minh, thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Diệm – pháp danh Nguyên Huệ. Ngài là người con út trong gia đình có 8 anh chị em.
20/10/2019(Xem: 10829)
Hòa thượng là người làng Triều Thủy, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tên thật là Nguyễn Đình Hiệp, sinh năm 1938, mất năm 1973 tại Sài Gòn. Sinh trong một gia đình thuần Phật có 9 anh em 4 trai 5 gái mà Hòa thượng là con út. Thân phụ là cụ Nguyễn Đình Thắng, pháp danh Tâm Minh, tự Diệu Dụng. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lang, pháp danh Tâm Lạc.
20/10/2019(Xem: 7250)
Cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác (1928 – 2012) – Phó Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Tổng Thư Ký Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Thành Viên Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sỹ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. – Nguyên Tổng Thư Ký Hội Đồng Lãnh Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại. – Nguyên Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ. – Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ. – Viện chủ Tổ Đình (PHV) Pháp Quang; chùa Nam Tông; chùa Xá Lợi Phật Đài (Việt Nam). – Viện chủ Pháp Luân Tự, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
20/10/2019(Xem: 6755)
Hòa thượng đạo hiệu Thích Minh Cảnh, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40. Hòa thượng thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12-11-Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh (Đồng Tháp). Hòa thượng xuất thân trong gia đình kính tin Tam bảo, thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Hòa thượng là người con út, là con thứ 9 (miền Nam gọi là thứ 10) trong gia đình có 9 anh chị em, với bốn người anh, chị xuất gia tu học.
20/10/2019(Xem: 7090)
TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM (THITASÌLA MAHATHERA) (1921 - 1984) Nguyên: - Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda) Việt Nam. - Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam - Campuchia.
20/10/2019(Xem: 26583)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.