Vài mẫu chuyện để tưởng niệm Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

19/09/201003:05(Xem: 10794)
Vài mẫu chuyện để tưởng niệm Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

htthichthientam
Vài mẫu chuyện để tưởng niệm

Cố Hoà Thượng Thiền Tâm.

Thoại Hoa.

 

Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy. Mới chừng mười tuổi, khi bắt đầu hiểu biết hơn về đạo, tôi đã muốn xin quy y. Tôi thường theo cha tôi đi vào tổ đình Ấn Quang, các chùa Xá Lợi, Dược Sư, Từ Nghiêm, và rất nhiều thầy đề nghị quy y cho tôi, vì các thầy đều quen biết cha tôi. Rất lạ là hồi đó, tuy còn bé, nhưng tôi rất bướng bỉnh, không chịu thầy nào làm Bổn Sư mình. Tôi khăng khăng nói là tôi đã biết trước thầy tôi sẽ là ai.

Khi lớn lên, tôi thường tới lui Cô Nhi Viện Diệu Quang ở Phú Lâm để giúp các sư cô chăm sóc trẻ em mồ côi. Cho đến khi tôi hai mươi tuổi, một ngày nọ, trên đường từ Phú Lâm về, xe tôi chạy ngang An Dưỡng Địa, Lò Hoả Táng, cạnh Cô Nhi Viện, tôi nhìn vào thấy có ba cái cốc. Tôi ngạc nhiên không biết sao ở chốn này lại có người ở. Không hiểu do điều gì xui khiến, tôi đòi dừng xe, mạnh dạn bước vào, gỏ cửa một trong ba cái cốc tịnh thất. Một vị sư ra mở cửa. Tôi chưa bao giờ gặp vị đó, và rất ngạc nhiên thấy nhà sư vui mừng trên nét mặt. Tôi đứng sửng sốt, hai chân bám xuống đất, không dám cử động, nói phều-phào qua màng lệ : « Thôi đúng rồi, nay con đã tìm ra thầy con rồi. Bạch Thầy, bao nhiêu năm nay con đi tìm Thầy. Thầy có chịu làm Bổn Sư của con không ? » Thầy mỉm cười trả lời : « Thầy đã chờ con từ lâu rồi. Ngày mai con đem hoa quả lên đây, thầy sẽ quy y cho con » Vị sư đó là thầy Thiền Tâm.

Tôi về thưa với cha tôi. Cha tôi không quen Thầy, nhưng cũng nhận lời, cho người mang hoa quả tới. Sau khi làm lễ, Thầy đặt cho tôi pháp danh là Thoại Hoa. Tôi rất thích pháp danh đó, tuy tôi không hiểu rõ ý nghĩa của nó. Hồi đó tôi còn nhút nhát, cũng không dám hỏi Thầy. Mãi mấy chục năm sau, trong một dịp đi hành hương bên Ấn Độ, theo vết con đường tu hành của đức Phật Thích Ca, tôi mới được Hòa Thượng Huyền Vi giải nghĩa cho. Thầy Huyền Vi nói : « Chà, cô này có pháp danh rất hay. Để thầy giảng nghĩa cho mọi người nghe : Hoàng hậu Ma Gia một buổi sáng ấm nắng đi dạo chơi trong vườn Lâm Tỳ Ni, bỗng thấy một đóa linh hoa thoại vừa mới trổ. Hoàng hậu tự nhủ : « Hoa này rất là hiếm, ít người được thấy, vì vạn năm mới nở một lần, và chỉ nở khi có điềm lành ». Bà hài lòng với tay hái hoa, thì ngay lúc đó chuyển bụng sanh ra thái tử Tất Đạt Đa. Thầy của cô đặt cho cô tên Thoại Hoa là muốn nhắc nhở tới sự tích này »

Sau ngày phát nguyện quy y, mổi lần đi lên Cô Nhi Viện Diệu Quang, tôi không quên ghé thăm thầy Thiền Tâm, và lần nào thầy cũng dành nhiều thì giờ cho tôi. Có điều lạ là Thầy không bao giờ đến thăm cha tôi, và cha tôi cũng không bao giờ đến gặp Thầy. Tôi nhớ có một lần Thầy bảo tôi : « Con đã tu nhiều kiếp rồi. Ráng cuộc đời này làm công quả cho nhiều. Nhưng Thầy và con rồi cũng ít được gặp nhau. Sau này Thầy viên-tịch rồi thì con ráng tìm đệ tử của Thầy mà tiếp tục tu cho đắc đạo »

Một ngày nọ, cũng như mọi kỳ, tôi ghé thăm Thầy. Vừa mở cửa ra, Thầy liền thốt lên : « Hôm nay con lên từ giả Thầy phải không ? » Tôi hết sức ngạc nhiên, sửng sốt hỏi lại : « Sao thầy nói con đến từ giả Thầy ? » Thầy hiền từ nhìn tôi mỉm cười : « Thầy biết con đi du học xứ ngoài, hôm nay con lên thăm Thầy lần cuối » Đúng vậy, tôi đến từ giả Thầy để đi xuất ngoại du học. 

Tôi ra đi từ năm 1966. Vùi đầu vào sách vở, ở xứ người, tôi không có dịp liên lạc với Thầy vì tôi nghĩ không biết trong thư từ viết gì cho một vị xuất gia. Hơn nửa, tôi đoán Thầy cũng bận nhiều, đâu có thì giờ viết thư dạy bảo cho tôi. Rồi ngày tháng trôi qua, đến năm 1990, tôi được môt người quen cho biết Thầy Như Thông bên Mỷ là môt đệ tử của Thầy Thiền Tâm. Tôi mừng quá tìm liên lạc với Thầy Như Thông. Thầy Như Thông không ngần ngại phí tổn thời giờ đã viết thư rất nhiều về Phật pháp cho tôi.

Nhiều năm sau, một ngày nọ, tôi nằm chiêm bao, thấy Thầy Thiền Tâm mặc áo tràng rộng màu trắng, từ xa đi đến, rồi quay lưng đi trong cánh rừng đầy sương mù. Tôi chợt thức-dậy. Linh tính cho tôi biết có điềm không lành sẽ tới. Thật vậy, ít ngày sau tôi nhận được thư thầy Như Thông báo tin Sư Phụ tôi viên tịch, đúng vào ngày báo trong giấc mộng. Bổn Sư tôi viên-tịch vào ngày 16 /12/ 1992, nhằm ngày ta là 21 tháng 11 năm Nhâm Thân.

Năm 2001, tôi về thăm quê nhà. Thầy Như Thông đã về Việt Nam trước đó môt năm. Tôi tuy trao đổi nhiều thư từ, nhưng chưa bao giờ gặp Thầy Như Thông. Từ Sài Gòn, tôi gọi điện thoại đến nhà Thầy Như Thông, báo tin tôi từ xứ ngoài về muốn nói chuyện với Thầy. Bên kia đầu giây trả lời : « Thầy không có ở đây » Tôi bâng-khuâng hỏi lại : « Thầy không có ở đây, vậy Thầy ở đâu ? » Bên kia đầu giây yên lặng. Tôi có linh tính thật lạ lùng : « Thầy viên-tịch rồi phải không ? Bên đầu giây kia hỏi : « Sao Cô biết ? » Tôi trả lời : « Thầy viên-tịch ngày đó giờ đó phải không ? ». Bên kia trả lời : « Đúng vậy, y như Cô nói, ngày giờ không sai » Tôi nói tiếp : « Thầy có về báo mộng cho tôi biết ». Thật ra kỳ này, tôi cũng được Thầy Thiền Tâm báo trong mộng. Lúc đó tôi đang ở một khách sạn ngoài Huế. Cũng như lần trước cách đây mười năm, tôi thấy trong mộng Sư Phụ tôi đi tới cùng Thầy Như Thông, rồi hai người quay lưng đi ra xa trong màn sương mù dầy đặc. Tôi thức dậy, biết đây là điềm xấu. Tôi buồn bả ra nhìn cửa sổ xuống sông Hương, mặt trăng rằm to như cái mâm tròn thật đẹp nằm lửng lờ trên mặt nước lung linh, tuyệt vời. Hôm đó là ngày rằm tháng ba năm Nhâm Ngọ, ngày tiết Thanh Minh. Lúc đó là 5 giờ sáng.

Nhiều người đồn rằng Thầy tôi có huệ nhãn. Tôi kể ra đây một trong nhiều chuyện rất lạ về Thầy tôi. Hồi Thầy còn ở An-Dưỡng-Địa, Phú Lâm, có môt hôm, sau khi công phu chiều với đại chúng, Thầy bảo : « Hôm nay chúng con cùng hộ niệm, cầu siêu với Thầy, vì mấy ngày nay Thầy thấy có những vong hồn uất tử lai vãng quanh chùa. Xong lễ, các thầy trẻ tuổi bảo nhau :« Thầy mình sao hôm nay nói gì lạ quá, có vẻ tâm thần không được bình thường ». Ba ngày sau, có hai chiếc xe đò đầy khách và một chiếc xe tư nhân cũng đầy người đụng nhau trước cửa chùa, người trên ba xe không môt ai sống sót. Thì ra Thầy đả linh đoán được chuyện này từ nhiều ngày trước. Đại chúng trong chùa ai cũng vừa sợ vừa thầm phục Thầy.

 

NAM-MÔ CHỨNG-MINH SƯ BỒ TÁT MA-HA TÁT.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2013(Xem: 11668)
Hòa thượng họ Lâm, sau đổi họ Nguyễn, sinh năm Bính Thìn (1916), tại thôn Mỹ Trung, xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Lâm Du Nhân pháp danh Tâm Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mua pháp danh Tâm Đắc. Hai cụ thân sinh, do có túc duyên với Tam bảo nhiều đời, nên đã hoan hỷ cho Hòa thượng xuất gia từ nhỏ và đã phát tâm mua đất kiến tạo ngôi tự viện Phi Lai tại xã Hòa Thịnh, tạo thuận duyên tu học cho Hòa hượng. Hòa thượng có 7 anh em, 5 trai 2 gái, Hòa thượng là người con thứ 2 trong gia đình. Cả gia đình đều trực tiếp tham gia vào sự nghiệp Cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc.
02/08/2013(Xem: 27485)
Do tuổi cao sức yếu đã an nhiên thị tịch tại trụ xứ chùa Dược Sư, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, vào lúc 11 giờ 56 phút, ngày 24 tháng 6 năm Quý Tỵ (thứ Tư, 31/7/2013). Trụ thế 94 năm, 60 hạ lạp.
01/08/2013(Xem: 24418)
Bồ đề chủng tử diệu tâm Ứng thân đồng ấu nẫy mầm thiên lương Đức Thầy bình dị chơn phương Phụng thờ Phật Tổ hạnh thường khiêm cung.
30/07/2013(Xem: 16948)
Cố Thượng tọa THÍCH CHÁNH LẠC, thế danh Nguyễn Ngọc Quang, Pháp danh Nguyên An, hiệu Chánh Lạc, sinh ngày 07 tháng 12 năm Canh Dần (1950) trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, tại thôn Khái Ðông, xã Hòa Hải huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Ðà Nẵng, thuộc danh lam thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.
19/07/2013(Xem: 14426)
Phật Giáo Việt Nam có sự gắn bó như nước và sữa với dân tộc và đất nước Việt Nam suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển trên hai ngàn năm qua. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Trong quá trình tồn tại và phát triển đó, Phật Giáo Việt Nam đã trải qua nhiều cơn thăng trầm, vinh nhục. Nhưng chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam đánh mất bản nguyện hoằng dương Chánh Pháp giải khổ quần sanh và góp phần giữ nước và phát triển đất nước.
13/07/2013(Xem: 24832)
Linh Sơn Chốn Tổ Nguồn Tâm
30/06/2013(Xem: 12548)
Năm nay Sư Ông Nhất Hạnh đã 87 tuổi. Nếu tính từ ngày xuất gia hồi 16 tuổi tới nay thì người đã có 71 tuổi hạ. Vậy mà Sư Ông vẫn chưa nghỉ một ngày, cứ mãi miết làm việc với một hạnh nguyện duy nhất là "Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc". Nếu không viết sách thì Sư Ông Sư Ông cũng dành thì giờ viết thư pháp, biến những lời Bụt dạy thành những câu thiền ngữ cho mọi người thỉnh về nhà, treo lên và tự nhắc mình tu tập như có thầy luôn ở phòng khách nhà mình, nhắc mình nhớ làm chủ thân tâm, nắm giữ chánh niệm, ý thức sự có mặt của người mình thương, vừa có tiền cho quỹ Hiểu & Thương của Làng nuôi dạy trẻ em nghèo đói ở Việt Nam và Ấn Độ.
23/06/2013(Xem: 10297)
Nam Mô Thanh Tịnh Pháp Thân TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT Nam Mô Viên Mãn Báo Thân LÔ XÁ NA PHẬT Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân THÍCH CA MÂU NI PHẬT Nam Mô Vị Pháp Thiêu Thân THÍCH QUẢNG ĐỨC BỒ TÁT Nam Mô Đại Hùng, Đại Lực CHƯ BỒ TÁT Vị Pháp Thiêu Thân
22/06/2013(Xem: 11992)
Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Thời gian đủ để chúng ta bình tâm nhìn lại sự kiện lịch sử nầy để rút ra bài học cho những bước tiến tương lai của dân tộc và cho chính mỗi con người nhỏ bé chúng ta trong cõi ta bà mê muội nầy.
17/06/2013(Xem: 14079)
1963-2013! Năm mươi năm đã trôi qua. Nửa thế kỷ là thời gian đủ dài để chúng ta có thể an nhiên nhìn lại quá khứ hầu rút ra được những bài học cho tương lai. Đối với Phật tử thì đó là một bài học về đạo lực vận dụng giữa trí tuệ và từ bi, giữa hạnh nhẫn nhục và lực đại hùng một cách hài hòa và vì lợi lạc của chúng sinh. Còn đối với tương lai dân tộc ta thì Pháp nạn Phật giáo năm 1963 đã cống hiến cho chúng ta một bài học lớn về niềm khao khát và lòng tôn trọng một cuộc sống cộng sinh trong một môi trường hòa bình, an lạc.