Chương II

02/05/201317:20(Xem: 11761)
Chương II

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

PHẦN II

NGHI-THỨC HÀNH-TRÌ

(SỰ HÀNH-TRÌ)

TÂY-PHƯƠNG NHẬT KHÓA

MẬT-TỊNH PHÁP-NGHI.

ÐÀN PHÁP

ÐÔI LỜI căn-dặn ........

Bắt đầu từ đây trở về sau là phần nghi-thức hành-trì (SỰ hành-trì) của pháp-môn MẬT-TỊNH SONG-TU trong quyển Tây-phương Nhật-khóa nầy.

Các liên-hữu hãy cố-gắng để-tâm và lưu-ý đến những lời chỉ-dẫn của soạn-giả để hành-trì cho đúng theo pháp-thức, hầu dễ-dàng phát-sanh ra hiệu-nghiệm hơn ........

Nguyên-bản của Vô-Nhất Ðại-Sư THÍCH THIỀN-TÂM Hòa-Thượng soạn ra – Vì để gây nên sự dễ-hiểu cho các Phật-tử trẻ tuổi hấp-thụ theo nền tân-học Tây-phương thời nay vốn không hiểu nhiều về chữ Hán (âm Hán-văn) – nên trong pháp nghi soạn ra ngài chỉ dùng toàn văn Nghĩa (Việt-nghĩa) để cho mọi người khi xem đến, khi hành-trì đến ... đều có thể hiểu rõ lời kinh và pháp-ý mà phát-tâm phấn-khởi tu tập thêm hơn.

Tuy-nhiên ........

Thể theo lời yêu cầu của một số Phật-tử lớn tuổi theo trường-phái xưa, hiểu-biết Hán-văn và ưa-thích cách đọc-tụng theo âm-Hán-Việt, nên tôi cho ghi thêm vào đây một vaøi phần âm Hán-Việt (kế bên) hầu được tiện-dụng hơn.

Vậy nên:

- Các liên-hữu có thể đọc-tụng và hành-trì “Tây-phương nhật-khóa, Mật-Tịnh pháp-nghi” nầy hoặc là theo Việt-Nghĩa, hoặc là theo cách ÂM, NGHĨA phối-hợp (như trong nghi-thức), tuỳ theo sở-thích của riêng mình, miễn sao cho được thích-hợp là tốt nhất.

Ðiều cần-thiết là phải nên chí-thành, trân-trọng trong lúc hành-trì.

Có như vậy mới thu-hoạch được nhiều lợi-lạc trên bước đường tu.

Bái-bạch. –

PHÁP-HOA Tự Tucson, Arizona.

Niệm Phật Tăng

Sa-môn THÍCH HẢI-QUANG.

(Cẩn-bút)

CHƯƠNG II

MẬT-TỊNH NGHI-THỨC

(HÀNH-TRÌ)

TIẾT I. LỜI DẶN CỦA SOẠN-GIẢ

Từ đây trở về sau........

Những đoạn nào có kép vòng đơn, là các lời căn-dặn hoặc dẫn-giải, in bằng chữ nhỏ. Chữ lớn là phần daønh để xướng-tụng và hành-trì.

Trải qua nhiều năm kinh-nghiệm, tệ-nhơn xét thấy các hành-giả thời nay có những ma-chướng, mà đạo-lực kém-yếu của phần đông người thời mạt-pháp khó nổi vượt qua. Ðó là những ma-chướng nội-tâm(1) ma-chướng ngoại-cảnh(2) và ma-chướng thuộc giới vô-hình(3).

Vì thế........

Sau khi nghiên-cứu trong Ðại-tạng (kinh), tệ-nhơn đã dựa vào kinh-nghiệm của chính mình và nhiều hành giả (4) khác thuật lại, dung-hợp môn tu Tịnh-độ thuộc Mật-giáo(5) cùng Hiển-giáo(6) soạn ra nghi-thức nầy.

Trong đây tệ-nhơn chỉ chú-trọng về sự khái-quát đơn-giản, lời văn tuy gọn mà ý-tứ đầy-đủ. Pháp-nghi nầy được chia ra làm ba phần:

a. Lễ-bái, sám-hối.

b. Trì-chú niệm Phật.

c. Phát-nguyện, hồi-hướng.

Xin lưu-ý:

- Pháp-nghi chỉ là hình-thức, là khuôn-mẫu, để cho “hành-giả” nương vào nơi sự-tướng mà tiến-tu hướng về chơn-cảnh(7), còn tiến-trình sâu hay cạn, thấp cùng cao, công-đức ít hay nhiều v.v... còn tùy theo nơi tâm chí-thành và sứ trì-niệm của các hành-giả.)

Trân-trọng. –

TIẾT II: PHẦN LỄ-BÁI VÀ SÁM-HỐI

(Dặn:

- Trước tiên rửa sạch tay, mặt.

- Lễ phục nghiêm-chỉnh(8).

- Khi đến nơi đạo-tràng, nơi lễ tụng ... thì:

a. Hành-giả tay trái dùng ấn “Kiết-tường” (xem đồ-hình, ấn-quyết và chú-giải) vẽ chữ RẢM

ram

sắc trắng vào trong lòng bàn tay mặt 3 lần. Kế đến tay mặt cũng kết ấn “Kiết-tường” vẽ vào lòng bàn tay trái y như vậy.

(Ý-nghĩa của việc làm nầy như sau:

- Bởi vì tay ta thường dơ-bẩn nên phải dùng chữ RẢM màu trắng để rửa cho sạch trước khi bắt ấn, trì chú – Chữ RẢM là tiếng Phạn hàm-ẩn ý-nghĩa cuûa sự thanh-tịnh, còn màu trắng là tượng-trưng cho sự trong sạch).

b. Kế tiếp đốt hương rồi bước lui lại, chắp tay đứng (hoặc quỳ) trước bàn Phật, đọc bài kệ tán sau đây:

batan

-Ấn-quyết:(Cách bắt ấn)

- Ngón tay cái nắm co đầu ngón vô-danh (áp-út).

- Ba ngón còn lại: trỏ, giữa và út duỗi thẳng ra là thành ấn.

Ấn nầy còn được gọi bằng một tên phổ-thông nữa là: Quan-Âm ấn.

KỆ TÁN PHẬT:

(Bài kệ khen-ngợi Phật).

(Hành-giả phải chí-thành cung-kính, hoặc đứng, hoặc quỳ. Chấp tay đọc bài kệ sau đây):

(VIỆT-NGHĨA):

Sắc thân PHẬT mầu đẹp,

Trong đời không ai bằng.

Khó sánh-ví, nghĩ bàn,

Nên nay con đảnh-lễ. (1 lạy)

Sắc thân PHẬT vô-tận,

Trí-huệ cũng như thế.

Tất-cả pháp thường-trú, (9)

Nên nay con quy-y. (1 lạy)

Bi, trí, nguyện-lực lớn,

Ðộ khắp cả hàm-linh. (10)

Khiến bỏ thân nhiệt-não,

Sanh về cõi thanh-lương. (1 lạy)

Nay con tịnh ba nghiệp, (11)

Quy-y và lễ tán.

Nguyện cùng các hữu-tình, (12)

Ðồng sanh về Cực-lạc. (1 lạy)

(Hành giả cũng có thể đọc bài kệ tán khác mà mình thích).

(Sau đây là phần Âm Hán-Việt. Hành-giả chỉ cần đọc, tụng một trong hai phần –Hoặc Âm hoặc nghĩa mà thôi)

Như-lai diệu sắc thân,

Thế-gian vô dử-đẳng.

Vô-tỉ, bất tư-nghì,

Ngã kim quy-mạng lễ. (1 lễ)

Như-lai sắc vô-tận,

Trí-huệ diệc phục-nhiên.

Nhất-thiết pháp thường-trú,

Thị cố ngã quy-y. (1 lễ)

Ðại-trí, đại-nguyện lực,

Phổ-độ ư quần-sinh.

Linh-xả nhiệt-não thân,

Sanh bỉ thanh-lương quốc. (1 lạy)

Ngã kim tịnh tam-nghiệp,

Quy-y cập lễ tán.

Nguyện cộng chúng hữu-tình,

Ðồng sanh An-dưỡng quốc. (1 lạy)

PHỔ-LỄ CHƠN-NGÔN:

AUM ! VÀJRA MÙD. (7 lần)

(Um, va ji ra, mật)

(DẶN:

- Trong khi tụng chú nầy, hành-giả dùng tay kết ấn “KIM-CANG HIỆP-CHƯỞNG” để ngay trên đỉnh-đầu (xoáy-tóc).

Theo Mật-giáo (mật-tông), hành-giả nên nhắm mắt lại, để tâm yên-lặng, thanh-tịnh – Xong quán-tưởng thân mình hiện ra khắp pháp-hội ở mươøi phương, lễ kính chư PHẬT.

Xong rồi thì xả ấn ra (ngay trên đảnh đầu)

Sau đây là ẤN-QUYẾT:

(cách bắt ấn)

- Hai tay chắp lại,

- Hữu áp tả,

(Tức là các ngón tay mặt đè lên các ngón tay trái)

- 10 ngón tay để so-le nhau,

- Cả 10 ngón tay đều Ngoại xoa(đưa ra bên ngoài)

(Xem đồ hình ấn dưới đây)

phole

(Kế tiếp hành-giả đứng ngay-ngắn trước bàn Phật – Nghiêm-chỉnh, chắp tay, mắt chăm nhìn vào tượng PHẬT – Ðọc phần đảnh-lễ như sau)

(VIỆT-NGHĨA)

1. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Hoằng-dương môn TỊNH-ÐỘ,

THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT,

Trăm ngàn ức hóa-thân,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

2. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thường-tịch quang Tịnh-Ðộ,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Pháp-thân mầu thanh-tịnh,

Khắp pháp-giới chư Phật.

(Chuông – 1 lạy).

3. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thật-báo trang-nghiêm độ,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân tướng hải vi-trần,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

4. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Phương-tiện Thánh cư độ,

A-Di-ÐÀ Như-lai

Thân trang-nghiêm giải-thoát,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

5. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc Phương Tây,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân căn-giới đại-thừa,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

6. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc Phương Tây,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân hóa đến mười phương,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

7. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

Giáo, hạnh, lý ba kinh,

Y, chánh đều tuyên-dương,

Khắp pháp-giới tôn PHÁP.

(Chuông – 1 lạy).

8. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

QUÁN THẾ-ÂM Bồ-tát,

Thân tử-kim muôn-ức,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

9. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương TÂy,

ÐẠI THẾ-CHÍ Bồ-tát,

Thân, trí sáng vô-biên,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

10. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương-Tây,

VĂN-THÙ Ðại Bồ-tát,

Thân thị-hiện Trí-mầu,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

11. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

PHỔ-HIỀN Ðại Bồ-tát,

Thân hạnh, nguyện sát-trần,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

12. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

Thanh-Tịnh Ðại-hải chúng,

Thân phước-trí trang-nghiêm,

Khắp pháp-giới thánh-chúng.

(Chuông – 1 lạy).

(Sau đây cũng là phần đảnh-lễ trên, được diễn theo ÂM Hán-Việt – Hành-giả chỉ cần đọc một trong hai phần nầy hoặc ÂM hoặc NGHĨA mà thôi).

(HÁN-VIỆT)

1. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Hoằng-dương môn TỊNH-ÐỘ,

THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT,

Thiên, bá, ức hóa thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

2. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thường-tịch quang Tịnh-Ðộ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Thanh-tịnh diệu pháp-thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

3. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thật-báo trang-nghiêm độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Vi-trần tướng hải thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

4. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Phương-tiện Thánh cư-độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Giải-thoát tướng nghiêm thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

5. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Ðại-thừa căn-giới thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

6. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Thập-phương hóa vãng-thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

7. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Giáo, Hạnh, LÝ, tam kinh,

Cực y, chánh tuyên-dương,

Biến pháp-giới tôn PHÁP..

(Chuông – 1 lễ).

8. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

QUÁN THẾ-ÂM Bồ-tát,

Vạn ức tử kim thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

9. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

ÐẠI THẾ-CHÍ Bồ-tát,

Vô-biên quang-xí thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

10. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

VĂN-THÙ Ðại Bồ-tát,

Trí-mầu thị-hiện thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

11. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

PHỔ-HIỀN Ðại Bồ-tát,

Hạnh-nguyện sát-trần thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

12. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

Thanh-Tịnh đại-hải chúng, ��

Phước, Trí nhị nghiêm thân,

Biến pháp-giới thánh-chúng.

(Chuông – 1 lễ).

(Dặn:

- Kế tiếp (Sau phần hoàn-tất 12 lễ nầy xong, hành-giả quỳ xuống trước bàn Phật, chắp tay, chí-thành, đọc bài kệ Sám-hối sau đây):

Quy-mạng mười phương PHẬT,

Tôn PHÁP, hiền-thánh TĂNG,

Tam-thánh cõi Cực-Lạc,

Xin thương-xót chứng-minh,

Vô-thỉ kiếp đến nay,

Con mê lạc luân-hồi.

Do bởi tham, sân, si,

Từ nơi thân, khẩu, ý.

Tạo tứ-trọng, ngũ-nghịch,

Thập ác, vô-biên tội.

Nay đem tâm chí-thành,

Tỏ bày cầu sám-hối.

Nguyện nhớ sức gia-trì,

Thân-tâm đều thanh tịnh.

Xin phát đại Bồ-đề,

Ðộ mình, người giải-thoát.

(Chuông – 1 lạy).

Ðệ-tử (đọc pháp-danh lên) Sám-hối, phát-nguyện rồi, chí-tâm đảnh-lễ Tam-bảo.

(Chuông – lạy 3 lạy)

--------------------------------------------------------

(1)- Ma-chướng:Những gì gây trở-ngại cho việc phát-triển căn lành của mình thì đều gọi là ma. (như buồn ngủ làm cho tu không được thì gọi là ma buồn ngủ ... ma làm biếng, ma sân-hận, ma si-mê, vv...)

(2)- Ma-chướng ngoại-cảnh: Tức là ma bên ngoài, có hình-tướng có danh-sắc. Ðây là các sắc (tướng)ma. Trong ngủ-ấm ma thì nó đứng đầu (SẮC). Loại ma nầy có vô-lượng tướng-dạng.

(3)- Ma-chướng thuộc giới vô-hình:là các loại ma không có hình-tướng vật chất. Như là hồn-linh, ma quỷ. Ở đây soạn-giả muốn nói đến các loài thiên ma tức là Ma-vương và các thuộc-hạ ở cung trời Tha-Hóa tưï-tại.

Ngoài ra còn thêm 10 loại ma khác như sau:

- Ngủ-ấm ma (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

- Phiền-não ma (Tham, sân, si).

- Nghiệp ma (các ác-nghiệp quá khứ hoặc hiện taïi).

- Tâm ma (Cống cao, ngả-mạn - Thất mạn).

- Tử ma (Ma chết, tử thần).

- Thiên ma(Ma-vương ở cõi trời thứ 6 là Tha-Hóa tự-tại).

- Thiện-căn ma: ỷ mình có đủ phước-đức, căn lành sanh ra kiêu ngạo, không chịu tu hành, gần thiện tri-thức.

- Tam-muội ma:ỷ mình đắc được một vài thiền-định, rồi mê đắm chấp và trụ vào trong đó, không chịu phát-tâm Bồ-đề vô-thượng tinh-tấn thêm nữa (Loại ma nầy bao gồm các hàng Thiên-tiên, ngoại đạo và các bậc Tiểu-thừa thánh quả).

- Thiện tri-thức ma:là người hiểu biết điều đạo-lý, kinh-điển mà ích-kỷ, cứ bo-bo giữ cho mình chớ không đem ra dạy-dỗ cho người, sợ người ta biết như mình rồi không còn kính-trọng, cúng-dường cho mình nữa. Vô-tình đi vào trong ma đạo.

- Bồ-đề pháp tri ma:Trong pháp Phật tuy khởi lòng tin, có trí-huệ nhưng tâm còn chấp trước các pháp, nên bị che lấp chánh-trí, không chịu cầu thành được quả-vị Phật (Ðây là chỉ cho các vị thánh-nhơn ở hai thừa Thănh-Văn, Duyên-Giác).

(4)- Hành-giả:Người hành-trì, tu-tập (chẳng-hạn như mình vậy).

(5)- Mật-Giáo:Tức là MẬT-TÔNG. Ðây là một pháp tu bí-mật của Phật-giáo, dạy về cách bắt-ấn, trì-chú, vv... Pháp-tu nầy có tính-chất liểu-nghĩa (trọn đủ), căn-cứ vào nơi tâm-pháp bí-truyền.

(6)- Hiển-giáo:là những giáo-pháp truyền dạy thoe phương-pháp thông-thường mà ai cũng có thể tu theo được như tụng kinh, niệm Phật, tán-tụng vv...

Ðây là một pháp-tu phổ-thông dành cho chúng-sanh trong thời buổi mạt-pháp khó tu nầy, nương theo tu-học, để dễ-daøng giải-thoát. Pháp-tu nầy chưa được liễu-nghĩa (chưa hoàn-toàn trọn đủ)vì còn căn-cứ trên kinh giáo.

(7)- Chơn-cảnh:tức là cảnh giải-thoát.

(8)- Lễ-phục nghiêm-chỉnh:

- Nếu là xuất-gia thì nên mặc y-hậu.

- Nếu là tại-gia thì nên mặc áo tràng.

(9)- Thường trú: Tức là còn hoài không biến-đổi - Ðây tức là ý của chữ BẤT-SANH, BẤT-DIỆT, BẤT-CẤU, BẤT-TỊNH vv... trong Bát-Nhã tâm-kinh.

(10)- Hàm-linh:Ngậm tánh-linh, tức là các loài chúng-sanh còn có tình-thức, biết buồn giận, ghét thương vv... (như mình hay là các loài thú vật, vậy).

(11)- Ba nghiệp:

-Tức là nghiệp của THÂN (sát, đạo, dâm).

- Nghiệp của KHẨU (nói dối, nói hung-dữ, nói thêu-dệt, nói hai chiều)

- Nghiệp của Ý (Tham, sân, si).

Ðây gọi là thập ác.

(12)- Hữu-tình: tức là hữu-tình chúng-sanh - Ðồng-nghĩa với chữ hàm-linh (ở trên).

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2010(Xem: 10511)
Chân Nguyên chủ trương then chốt của việc đạt được giác ngộ là thắp sáng liên tục ý thức của mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên” đó là nguồn gốc chân thật của mình.
11/10/2010(Xem: 8518)
Thượng tọa Thích Thông Huệ, thế danh Bùi Hữu Hòa, sinh năm Tân Sửu (1961) tại Phan Rang - Ninh Thuận. Năm 20 tuổi (Canh Thân - 1980) xuất gia với Hòa thượng Thích Đỗng Hải, trụ trì Tổ đình Sắc tứ Thiền lâm tự - Phan Rang, Ninh Thuận. Năm 1982 Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Thượng tọa đã đãnh lễ Hòa thượng Thích Đỗng Minh, cũng là vị Sư Bá trong tông môn, để được làm đệ tử Y chỉ sư.
04/10/2010(Xem: 10017)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi. Sinh chính quán của tôi là làng Diêm Điền, thuộc khu vực phía tây sông Nhật Lệ, nằm phía Bắc con đường cái quan nối liền cổng Quảng Bình, trung tâm thành phố Đồng Hới, đến tận của Vũ Thắng, ven chân dãy núi Hoành Sơn.
03/10/2010(Xem: 8132)
Đức Phật dạy: Ai muốn tin Ta, làm đệ tử Ta, cần phải đủ trí quán sát, mới tin; không rõ nguyên nhân Ta, mà tin Ta ấy là phỉ báng Ta. Ý câu này, Ngài bảo đệ tử của Ngài, ai muốn tu, muốn hành theo hạnh Ngài thì phải rõ các hành vi của ngài. Nghĩa là: xét rõ nguyên nhân của Ngài, sẽ tin và làm theo, chớ đừng làm càn, tin bướng thì khác nào không phải lương y mà giả xưng là lương y, cách đó rất tai hại. Chúng ta nên biết: "Bồ Tát thị hiện phàm phu, chính phàm phú đó là hóa thân Bồ tát; còn phàm phu giả xưng Bồ tát thì Bồ tát ấy là Bồ tát của phàm phu". Nếu đem tâm phàm phu đó hành xử thì chỉ chuốc lấy phiền não khổ đau.
03/10/2010(Xem: 12767)
HT Minh Tâm (Khinh Anh) , 50 năm một đời người - Một đời đạo Pháp - phần 1 - Ngày Vía Quan Âm sắp đến.. 19 tháng 2 năm Giáp Ngọ . Chùa Phật Ân Tổ chức lễ Hoàn Nguyện , sau hai năm trùng kiến Ngôi Chánh Điện lần cuối và một số hạng mục khác. Vì nhân duyên đó , xin giới thiệu đến với quý thiện nam tín nữ , Phật tử gần xa , các Bậc Thiện Tri Thức . Một chuỗi hình ảnh của thầy Minh Tâm đã chuyển thể qua video , từ năm 1963 - 2014 . với nhan đề : THẦY MINH TÂM , 50 NĂM MỘT ĐỜI NGƯỜI - MỘT ĐỜI VÌ ĐẠO PHÁP . Trong quá trình sưu tầm , dàn dựng . Sai sót là điều khó tránh khỏi , kính mong quý vị hoan hỷ . NAM MÔ HOANG HỶ TẠNG BỒ TÁT .
29/09/2010(Xem: 13474)
Tác-phẩm của Trần-Thái-Tông còn lưu truyền đến nay chỉ gồm có Bộ-Khóa-Hư-Lục và hai bài thơ sót lại của quyển Trần-Thái-Tông ngự-tập đã thất-lạc.
28/09/2010(Xem: 10855)
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG TÂM (1947 - 2010), húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học.
23/09/2010(Xem: 8545)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 10710)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9021)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.