Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

12 vấn đề xã hội dưới cái nhìn Phật giáo

12/03/201407:34(Xem: 12242)
12 vấn đề xã hội dưới cái nhìn Phật giáo

dalailama

Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên. Với phong thái gần gũi, chân thật và giản dị, và qua những câu trả lời này, phần nào đã trả lời câu hỏi: tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhiều người, đặc biệt là ở các nước phương Tây yên mến đến thế.

1. Kính thưa Ngài, khi còn bé Ngài đã tỏ ra phi thường. Những trẻ em lo âu cho tương lai của tinh cầu đã thành lập một hội đoàn. Ngài có điều gì muốn nói với trẻ em ngày nay?
Tương lai là cái gì ở trước mặt chúng ta, và vì vậy, nó rất quan trọng. Trẻ em có trách nhiệm về tương lai ấy. Vì rằng bản tính con người căn bản là tốt, nên trẻ em, khi còn rất nhỏ, không phân biệt lắm giữa
người này và người nọ. Các em có một tình thương và lòng nhân tự nhiên. Ví dụ đối với các em, nụ cười của người đối diện quan trọng hơn chủng tộc, quốc tịch hay văn hóa của họ. Điều này, theo tôi rất đáng quý và nó khiến tôi hy vọng ở tương lai. 

Nhưng mặt khác thì tôi lại thấy hơi lo: trẻ em đương nhiên có tâm hồn cởi mỡ và tốt bụng, nhưng một vài khía cạnh của nền giáo dục mà các em hấp thụ làm tăng thêm mối chia rẽ của các em, điều này chung cục sẽ tạo nên hố ngăn cách giữa trẻ em và những người khác. Vì vậy, tôi thấy là song song với giáo dục, điều tôi cần là phải phát triển lòng nhân mà bẩm sinh các em vốn có. Nghĩa là giáo dục phải hòa hợp với bản chất nhân hậu của trẻ. Điều chính là nuôi dạy nó trong một môi trường thương yêu và trìu mến. Mặc dù, lý tưởng mà nói rằng, nếu phải lựa chọn nhiều đức tính rất quý khác và lòng nhân, chắc chắn tôi sẽ chọn lòng nhân.

Thật vậy, giáo dục cùng với trí thông minh bẩm sinh của con người, dù quan trọng cách mấy cũng không đủ để tạo dựng tương lai. Tâm hồn chúng ta phải thấm nhuần đức vị tha, bằng cách cảm nhận giá trị nhân bản nòng cốt như tình thương đồng loại. Hãy tự tạo cho mình lòng nhân và tinh thần khoan dung; hãy cho trí thông minh của ta phong phú lên nhờ đức tính ấy, và khai thác những đức tính có được giáo dục, để cả chúng ta và xã hội quanh ta đều được mãn nguyện và hạnh phúc.

2. Tại sao ở phương Tây cha mẹ và con cái lại thường bất hòa như vậy?
Tôi cũng chẳng biết nữa. Có nhiều yếu tố và điều kiện, như thói quen, phong tục và tấm gương cho trẻ noi theo, điều có thể tạo nên xung đột trong gia đình. Dĩ nhiên thật đáng buồn khi mà giữa cha mẹ và con cái, tình thương yêu không còn nữa. Tôi không thể giải thích những mối bất hòa như vậy bằng một nguyên nhân duy nhất nào. Vì có nhiều nguyên nhân, nên khi tìm cách giải quyết vấn đề, phải nhận định chúng một cách bao quát, toàn diện.

3. Những quan điểm chính trị và kinh tế của các nước phương Tây đã vận hành tương đối tốt trong thập niên 1960, nhưng mọi sự không ổn trong thập niên này. Người ta không còn thấy bằng lòng nữa. Làm sao chỉnh đốn lại tình thế?
Từ lúc hãy còn rất bé, tôi đã ham thích kỹ thuật. Một số người cho rằng chính việc phát triển kỹ thuật đã không hoàn toàn đáng mong muốn. Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi nghĩ rằng tất cả đều do ở thái độ chúng ta, và chúng ta có quyền sử dụng nó và điều tốt hay điều xấu. Vậy nên, tất cả đều tùy thuộc vào động cơ thúc đẩy chúng ta, và cách chúng ta áp dụng kỹ thuật. Tôi nghĩ hiện nay chúng ta đang chứng kiến một sự tăng gia kiến thức sâu rộng, nhưng người ta lại không quan tâm phát triển lòng tốt, thiện tâm và tình thương yêu đồng loại cho bằng quan tâm đến kiến thức.

Tuy vậy, tôi nghĩ rằng hiện nay mọi sự đã rất rõ ràng. Con người không phải là sản phẩm của máy móc, cho nên không mong gì có được hạnh phúc thật sự nếu chỉ tùy thuộc vào ngoại cảnh. Dĩ nhiên, chúng ta cần có một tối thiểu tài sản vật chất, nhưng nó không phải là nguyên nhân mang lại hạnh phúc. Những nguyên nhân thật sự để được hài lòng mãn nguyện phải tìm trong nội tâm ta. Tôi nghĩ điều ấy rất rõ.

Mặc dù khó giải thích điều này, tôi xin cố gắng diễn tả ý nghĩa của lời giải quyết ấy. Trước hết phải nhìn nhận hạnh phúc thể hiện trong tâm hồn chúng ta. Những kẻ chỉ suy nghĩ bằng khoa học kỹ thuật, với chủ trương là có thể giải quyết và hoàn tất mọi chuyện nhờ có tiến bộ, đều là cực đoan. Tôi phải nhìn nhận đâu là giới hạn của một lối nhìn như vậy. Khởi đầu bằng cách định đường ranh này khiến chúng ta khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp những trở lực ngoại giới. Theo ý tôi, khi gặp khó khăn chúng ta đừng nên quá gần mà quan sát chúng. Ngược lại, hãy đứng xa ra một chút, nhìn với một tâm hồn cởi mở hơn, trong một bốicảnh bao quát hơn; khi ấy chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp dễ dàng hơn. 

Ví dụ chúng ta đang gặp vấn đề nan giải. Nếu cứ đứng thật gần mà nhìn, ta sẽ thấy khổ đến không chịu nỗi, vì vậy cứ phải suy gẫm toàn những mặt tiêu cực. Ngược lại, quan sát vấn đề từ một khoảng cách, biểu lộ một cung cách thoải mái hơn, và xét vấn đề dưới những góc độ khác nhau, thì giúp chúng ta tìm được những khía cạnh tích cực của tình huống. Tôi thấy là cần phải kết hợp trí thông minh tự nhiên của mỗi người với lòng can đảm, để tạo ra niềm tin thật sự. Kinh nghiệm riêng đã dạy tôi rằng nhờ có thái độ này mà ta dễ đạt đến sự yên tĩnh của tâm hồn.

4. Các chính trị gia có thể có biện pháp nào để cho người dân được sung sướng hơn?
Tôi nghĩ vai trò này không chỉ giới hạn cho các chính trị gia mà thôi. Nó liên quan đến mọi người, những nhà giáo dục, khoa học gia, những người thiết lập các lý thuyết chính trị, các nhà tâm lý học, những người chuyên về khoa học tâm linh, những nhà trí thức; tóm lại, việc tìm kiếm những phương thức cho sự bình an nội tâm là công việc của mỗi người. Ví dụ, ngành y khoa ngày càng khám phá thêm nhiều tương quan giữa sự thanh thản tâm hồn và sự lành mạnh thể xác. Đó là những công trình nghiên cứu đáng được phát triển thêm về chiều sâu.

Tôi phải nói rằng, quý vị trong hệ thống thông tin báo chí, ở thời điểm này đóng vai trò rất quan trọng. Hệ thống thông tin báo chí hiện nay thuộc về một thời đại tân tiến, và trong một phương diện, tôi tin ngành báo chí hành động như một nhà giáo dục, như một nhân tố kích thích tâm hồn con người. Như vậy quý vị có một vai trò rất đặc biệt. Về điều này, tôi xin trình bày với quý vị một vài ý kiến: tôi có cảm tưởng là ngành báo chí thông tin chú ý quá nhiều đến mặt xấu của những hoạt động của con người, khiến cho quần chúng có cảm tưởng là bản tính con người hoàn toàn xấu. Khi nghĩ như thế, tự nhiên người ta chán nản và thật sự có nguy cơ mất hết hy vọng. Loài người có bao nhiêu chuyện để đau khổ, dù chỉ trong phạm vi hạn hẹp của gia đình. 

Dù có muôn vàn vấn đề mà con người gặp phải, vẫn có một tiềm năng để biến đổi: vẫn có thể làm cho hoàn cảnh đó tốt đẹp hơn, vì thương cảm và từ bi ở trong bản tính của chúng ta. Bằng cách liên kết thông minh của con người với một động cơ thúc đẩy tốt lành, chúng ta có thể thay đổi cuộc đời của chúng ta, và cải tạo xã hội. Đối với tôi, đây là điều then chốt. Vì vậy tôi nghĩ rằng khi trình bày những vấn đề có quan hệ đến con người, thì quý vị nên trình bày một cách quân bình hơn. Dĩ nhiên tất cả những mặt xấu này của cuộc đời cũng đều quan trọng, chúng cho báo chí những chất liệu tốt, nhưng cũng đừng quên đưa ra những mặt tốt của cuộc đời, căn bản trên bẩm chất con người và trí thông minh của ta.

Gần đây, trong một số quốc gia người ta bàn cãi nhiều về vai trò của báo chí. Có nên nói huỵch toẹt hết mọi chuyện không? Phải nói cách nào? Chỗ nào trong đời tư, báo chí không được đụng đến? Tôi có vài ý kiến về vấn đề này, nhất là đối với những nhân vật lãnh đạo. Có trường hợp mà một số vị này không cư xử đúng đắn trong cương vị của họ, không tỏ ra có nguyên tắc hay kỷ luật tự giác. Trường hợp này tôi nghĩ rằng chỉ có báo chí mới có quyền năng kiểm điểm, và đưa ra ánh sáng, những cung cách hành động như vậy; do đó, tôi ủng hộ hành động của nhà báo và đánh giá cao khía cạnh lục lọi, dò xét, nơi nào cũng xen vào của họ. Không nên có khoảng cách chênh lệch giữa thể thống bên ngoài và đời tư của một người lương thiện. Tôi nghĩ báo chí phải cho công chúng thấy rằng một số khía cạnh hấp dẫn khác hẳn. 

Chính trong chiều hướng đó mà tôi hơi khuynh về sự can thiệp vào đời tư của người ta, nhưng không phải vì vậy mà quên rằng chủ đích chung của chúng ta là phục vụ con người để kiện toàn xã hội. Đừng hành động sai lạc, do những động cơ xấu thúc đẩy. Tôi tin là, nếu người ta không phơi trần hết thảy những tệ nạn xã hội như nghiện thuốc, giết người, hãm hiếp và lạm dụng trẻ em, thì những kẻ vô tội sẽ cứ hàng ngày chịu khổ. Nếu báo chí giải thích rõ ràng, công chúng rốt cục phải chú ý và tìm ra cách giảm bớt khổ đau.

Tôi cũng nghĩ rằng, khi nói đến luân thường đạo lý, thường thì người ta gắn liền với nó với những khái niệm tôn giáo. Theo tôi, tách rời hai khái niệm luân lý và tôn giáo là điều quan trọng. Tôn giáo, lẻ dĩ nhiên, giúp chúng ta hiểu được đạo đức theo chiều sâu, duy trì và phát triển nó, nhưng khi nói đến lòng vị tha hay tình thương yêu đồng loại chẳng hạn, phải biết tha thứ đạo đức này tự nó mà có, không phụ thuộc vào tôn giáo, vì nó bắt nguồn từ bản tính thâm sâu của con người, đó là lòng nhân và tình thương yêu.

5. Ngài có thể nói khái niệm nghiệp tập thể, nghiệp chung của một quốc gia? Nghiệp chung này mô tả cái gì?
Nói về nghiệp chung của một quốc gia là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, mặc dù sự chín muồi nghiệp quả của những người trong cùng mọt lúc, điều này không có nghĩa là những nghiệp này được tích lũy trong cùng một thời gian. Tôi không tin là những duyên của một nghiệp chung được tạo ra cùng một lúc, mà chúng được tạo ra trong từng cá thể vào những thời điểm khác nhau. Sức mạnh của những hành động này và nhiều yếu tố khác nữa có thể tạo nên một sự nghiệp chung mà một nhóm người hay cả một nước phải gánh chịu.

6. Những tội nhân chiến tranh trong phần đông những xứ Âu châu, Đông Âu, và những quốc gia khác tại Á châu như Cam Bốt và Việt Nam đã không hề được xét xử, và có khi còn được ân xá ngay cả trước khi được xét xử. Ngài nghĩ thế nào về điều này?
Thật đáng buồn, trong nhiều nước vừa mới thoát khỏi chế độ đàn áp, người ta thường biểu lộ lòng căm hờn và ý muốn trả thù trong khi đáng lẽ phải biết tha thứ và chấp nhận. Đây không phải là lúc trả thù và thanh toán trong những nước đã được dân chủ này. Ngược lại, đây là lúc tái thiết quốc gia, xã hội. Tôi đã bày tỏ điều này khi được viếng thăm một số trong những nước đó.Tôi rất quý trọng và ngưỡng mộ những nghĩa cử của các tổ chức như cơ quan Ân xá Quốc tế, họ làm việc một cách chân thành, có hiệu năng và tích cực trong lĩnh vực vi phạm nhân quyền.

7. Ngài nói đến sự giải giới nội tại mà phải kèm theo giải giới ngoại tại. Xin Ngài nói rõ thêm giải giới nội tại là gì trước thù hận của kẻ địch, trước lòng căm hận của chính mình. Trong tác phẩm Les Voies du Coeur, Ngài cho thấy có thể thành lập trong tương lai một đạo quân quốc tế. Vì Ngài chủ trương bất bạo động, thì họ sẽ hoạt động cách nào đây? Họ sẽ được vũ trang không?
Ai cũng biết rằng khả năng chém giết vẫn tồn tại chừng nào người ta còn vung gươm múa kiếm trong những bang giao quốc tế, hay cả trong phạm vi mỗi quốc gia. Mặt khác, phải xét lại vấn đề mua bán vũ khí vì tình thế hiện nay vừa khủng khiếp vừa vô trách nhiệm. Chúng ta suy nghĩ rất nghiêm chỉnh đến vấn đề vũ trang mà, một khi đã phân tích cặn kẽ, cho thấu rõ cơ chế quân đội là yếu tố chính dẫn đến tình trạng suy thoái của tình trạng hiện nay, mà nạn nhân khủng bố là do vũ khí mà có. Vì vậy nguy cơ chiến tranh vẫn còn tồn tại ngày nào mà những cơ chế quân đội vẫn còn, ở phe này cũng như phe kia. Thế nên, cần phải dẹp bỏ quân đội, từ từ thôi, dĩ nhiên. Bắt đầu là giải giới nguyên tử, tiếp theo loại bỏ khí giới hóa học và vũ khí vi trùng, cuối cùng dẹp luôn vũ khí thông thường. 

Trước hết cần có sự bảo đãm quốc tế cho công cuộc giải giới này, nó cũng kiểm soát việc mua bán vũ khí, mà một số người đại diện là kẻ bất lương. Để giám sát việc giải giới này, có thể đưa vào những lực lượng nho nhỏ giống như một loại cảnh sát quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã tham gia rất nhiều trong hành động quân sự để giải phóng; chúng ta có thể một lực lượng địa phương hay quốc tế giám sát một nước đã hoàn toàn giải giới. Ý chính tôi muốn đưa ra là những lực lượng tập thể này sẽ hoạt động như những lực lượng bảo vệ trị an. Lúc ấy, mọi người sẽ thành Bồ tát, chẳng cần vũ trang gì nữa! Nhưng tôi chắc là sẽ khó thực hiện.

Một số người có lẽ không biết giải giới nội tại là gì? Tôi cho rằng căm hận là kẻ thù độc địa nhất. Đó là kẻ thù của sự thanh thản tâm hồn, tình hữu nghị và sự hòa hợp, ba yếu tố then chốt cho một sự phát triển tích cực để thực hiện một thế giới tốt đẹp hơn. Vậy phải tiết giảm hận thù và phát huy đức từ bi, lòng thương cảm. Đó chính là điều mà tôi gọi là giải giới nội tại.

8. Giận và ghét khác nhau thế nào?
Riêng tôi thường phân biệt hai loại tâm lý vẩn đục này như sau. Ghét gắn liền với sự oán hận người khác, không bao giờ có động lực là lòng xót thương. Vậy cần phải hủy diệt nó hoàn toàn. Giận bộc lộ một phản ứng cảm xúc tức thì, mà trong Mật tông, có thể sử dụng được để tu hành. Cũng có khi vì thương mà người ta nổi giận, ví dụ như để thúc giục kẻ khác phải tiến hành một hành động khẩn trương.

9. Xin Ngài định nghĩa thế nào là một kẻ thù?
Khi thấy mình giận ai đến tím mặt, thì biết ngay kẻ thù là gì. Chương bàn về lòng khoan dung và sựkiên nhẫn trong Bồ tát hạnhcủa Shantideva định nghĩa kẻ thù là người hăm dọa mạng sống ta hay bạn hữu ta, của cải ta hay của cải họ v.v…Bạn của kẻ thù được xem như kẻ thù. Trong pháp môn chuyển hóa tư tưởng (Tạng ngữ Lodjong) có mục quan sát tính bình đẳng giữa mình và người, dẫn đến ý niệm không còn thù hận hay bạn. 

Không phải phủ nhận sự hiện hữu của họ: kẻ thù và bạn vẫn còn đó; đúng hơn, sự tu tập này cho thấy không có lý do nào để giận những kẻ xem mình là thù, hay quyến luyến một số người vì họ là bạn hay bà con ta. Nhưng từ một góc độ khác nhau, có thể xem kẻ ấy là bạn, vì đã cho ta cơ hội để tập tính nhẫn nhục, khoan dung. Nếu nhìn ở khía cạnh này thì anh ta không còn là kẻ thù nữa, mà thật hữu ích và có lợi.

10. Một người Tây Tạng giết chết một con trâu để nuôi sống gia đình có hành động tiêu cực không? Câu hỏi cũng đặt ra như vậy đối với những người cận vệ, vì để bảo vệ tính mạng cho Ngài, phải biết giết người? Chúng ta phải biết hiểu những trường hợp này như thế nào?
Dĩ nhiên đây là những hành động tiêu cực. Cường độ tạo nghiệp của mỗi hành động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ý định thúc đẩy hành động, ngay chính hành động và suy nghĩ tiếp theo sau hành động.

11. Trong lúc theo giáo lý nhà Phật, làm sao sống trong những biến cố tàn bạo như chiến tranh?
Điều quan trọng hơn hết phải tránh chém giết: tự cho mình có quyền cướp mạng sống của ai là một điều dứt khoát không bao giờ chúng ta được nghĩ đến.

12. Không bám víu khác với thờ ơ lãnh đạm như thế nào?
Rất khác: lãnh đạm là hoàn toàn không quan tâm đến đối tượng đang đề cập, trong khi không bám víu hàm ý còn có một liên hệ.

Để làm sáng tỏ ý tôi nói, hãy xét sự bám víu là gì? Nó có hai loại: loại thứ nhất cần từ bỏ, đó là khi sự bám víu phát sinh do tâm trí bị khuấy động vì nỗi thèm muốn hay do bất kỳ động cơ tâm lý tiêu cực nào khác. Loại thứ hai là tình cảm hướng đến những đối tượng đáng thương khuynh hướng này không phát xuất từ những xúc động tiêu cực thì phải được đào sâu và tăng trưởng.

Khi quán tưởng tính Không (vacuité), chúng ta được thúc đẩy phải nới rộng sự bám giữ sai lạc các hiện tượng và sự cố, tưởng rằng chúng có một sự hiện hữu chắc chắn, biệt lập. Buông thả sự bám giữ sai lầm ấy là điều thiết yếu, nhưng vẫn phải có ý thức rõ ràng để phân biệt cái gì phải vun trồng cái gì nên từ bỏ, và cố gắng phát huy tiềm năng của những đức tính lành mạnh và tích cực đồng thời dẹp bỏ sức mạnh của những khuynh hướng tiêu cực và độc hại. Khả năng phân biệt của ta vẫn còn nguyên vẹn. Trong cùng chiều hướng suy nghĩ đó, Bồ tát phải hủy tận gốc sự kiêu ngạo, tự hào. Tính khiêm cung tự nhiên đặt vị ấy ở sau mọi người. 

Tuy nhiên,điều này không thể ảnh hưởng đến niềm tin vô song và lòng can đảm tuyệt vời của Bồ tát khi dấn thân giải thoát chúng sinh khỏi khổ ách. Gương từ bi rộng lớn không lẫn bám víu tiêu cực nào, chứng tỏ rằng Bồ tát xem trọng hạnh phúc người khác hơn hạnh phúc riêng.

Chính nhờ trí tuệ và sự tu tâm luyện tính trong phương tiện khéo léo cũng như khả năng sáng tạo của tâm hồn điều cần thiết mà ta có thể thấy sự khác biệt rất vi tế giữa yếu tố nuôi dưỡng bản ngã, tức sự bám víu, và những đức tính tích cực lợi tha. Chỉ có sự kết hợp phương tiện và trí tuệ mới phân biệt đúng được. 

Tôi thường nói rằng nhắc đến cái “tôi” đương nhiên bao hàm một ý thức mạnh mẽ về tự ngã. Một trong những hình thức biểu lộ bản ngã là không cần để ý đến kẻ khác, không đếm xỉa đến hạnh phúc của họ, thậm chí có thể vì tư lợi mà khai thác bất kỳ gì có thể làm cho mình sung sướng. Thái độ tâm lý này rõ ràng là rất tiêu cực cần phải đánh đổ. Ngược lại một khía cạnh khác của cái “tôi” có thể biểu thị bằng lòng tự tin rộng lớn, khiến ta có thể nói: “Mình có thể hoàn tất điều này điều nọ. Mình có thể làm việc cho mọi người được sung sướng. Mình sẽ đạt đến toàn giác (eveil parfait) để làm lợi cho chúng sinh”. Cảm thức ấy thì đừng dẹp bỏ mà ngược lại, phải phát huy nó, tăng cường nó! Trên con đường tu tập, tâm trí ta bề ngoài vẫn thảnh thơi, thoải mái, nhưng tự thâm sâu trong tâm hồn phải thật minh mẫn tỉnh giác, luôn sử dụng một cách sáng suốt sự phản tỉnh và chú tâm.

(lược theo Au delà des dogmes)
Tạp Chí Văn Hoá P
hật Giáo số 48

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201320:25(Xem: 1616)
Vai trò và vị trí của nữ giới và nam giới trong xã hội thường được ấn định khác nhau trong các vùng văn hóa khác nhau. Vì các lý do chính trị, xã hội hay tôn giáo, từ xưa nam giới thường được đề cao, nữ giới thì giữ một vị trí khiêm tốn hơn, có nơi bị xem nhẹ, như ở các xã hội chủ trương "đa thê", "phụ thê", "nam nhất viết hữu, nữ thập viết vô", phụ nữ ra đường phải che mặt, chỉ đảm nhiệm công việc gia đình, hay phải chịu tổn phí cưới hỏi.... Thậm chí thiếu mất quyền làm chủ gia đình và quyền lợi về giáo dục.
09/04/201311:42(Xem: 2203)
Trong bài viết này, dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi sẽ trình bày khái quát về hiện thực Phật giáo Việt Nam và vai trò của ni giới Việt Nam ngày nay. Phần thứ nhất là giới thiệu về Phật giáo Việt Nam. Hiện nay, Phật giáo Việt Nam có 3 truyền thống lớn: Bắc tông (Mahayàna), Nam tông (Theravada), và Khất sĩ. Tuy hình thức sinh hoạt khác nhau, nhưng cả 3 truyền thống này đều có tăng ni tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam; và vai trò của Ni giới Việt Nam đã được thể hiện cụ thể trên nền tảng của tổ chức Phật giáo duy nhất này.
08/04/201320:25(Xem: 1386)
Ni sư Houn Jiyu Kennett, người khai sơn và làm Ni trưởng ni viện Shasta ở bang California, Hoa Kỳ, là một trong những nữ tu theo PG đầu tiên ở phương Tây. Trong 30 năm hoằng pháp tại Hoa Kỳ, bà đã đem lại lợi lạc cho người dân ở xứ sở này qua việc thuyết giảng, viết sách báo... Các tác phẩm đáng chú ý nhất của bà là "Con ngỗng trắng hoang dã" (The wild white Goose), xuất bản năm 1977 và tái bản năm 1978 ; và "Dòng sông bán nước" (Selling water by the river) in năm 1972, đến năm 1978, quyển sách này được tái bản với tựa đề mới là "Thiền là đời sống vĩnh hằng" (Zen is Eternal life). Đây là những cuốn sách rất được các thiền sinh phương Tây ưa chuộng. Tuy nhiên, trong thời gian hoằng pháp tại các nước phương Tây, bà đã tự mình tách khỏi các tông phái thiền khác ở Mỹ và cả ở Nhật Bản.
08/04/201320:24(Xem: 2766)
Một học giả Phật giáo, dịch giả và tác giả người Hoa Kỳ, cô Besty Napper đã từ bỏ công việc dạy học của mình ở Đại học đường Stanford vào năm 1990 để đến làm việc tại Dharamsala - Ấn Độ, giúp đỡ sư bà Rinchen Khadro, điều hành một kế hoạch xây dựng một ni viện và một trường Phật học cho ni giới Tây Tạng. "Tôi có cái may mắn mà người phụ nữ Tây Tạng không có được", cô đã trả lời phỏng vấn với sư cô Robina Courtin vào tháng sáu trong chuyến đi ngắn trở lại Hoa Kỳ để in lịch Tây Tạng năm 1996.
15/10/201121:12(Xem: 1378)
Nữ giới Mỹ đang đưa Phật giáo bước ra khỏi chế độ phụ hệ (tộc trưởng) củaquá khứ, tham gia tự tinvào các lãnh vực như là các học viên, giáosư, và các nhà lãnh đạo. Công việc này chưa phải là kết thúc, Tiến sĩ Rita M. Gross, một trong những nhà tư tưởng nữ quyền hàng đầu của Phật giáonói, nhưng vai trò của phụ nữ Phật giáo Mỹ là chưa từng cóvà họ có thể tiếp tục thay đổi Phật giáo.
22/12/201610:04(Xem: 8909)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
15/05/201508:01(Xem: 9877)
Thể theo lời yêu cầu của các bạn Đạo, tôi chọn một số bài nói chuyện về Phật pháp của tôi tại Tổ Đình Từ Quang ở Montréal và một vài nghi thức tụng niệm để in thành cuốn sách này, với hy vọng phổ biến Phật pháp. Cuốn sách được hình thành trong dịp Tết Canh Thìn, nhưng phải đợi đến Tết Dương Lịch 2001 mới đánh máy xong. Trong thời gian chờ đợi này, tôi đã cẩn thận kiểm điểm lại nội dung từng bài, nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, những mong các bậc cao minh từ bi chỉ điểm cho. Montréal, Tết Dương lịch 2001 Hiển Mật, Đỗ Hữu Trạch
16/12/201311:38(Xem: 6677)
Giới là sự khác biệt căn bản giữa người nam và người nữ, liên quan đến giới tính, đến vai trò và vị trí xã hội của họ. Vấn đề bình đẳng giới được nêu lên nhằm giải quyết sự thiệt thòi của phụ nữ vì bị đối xử phân biệt
26/01/201204:11(Xem: 4913)
Nữ Phật tử ở khắp nơi trên thế giới đang cố gắng đổi mới, và bộ sưu tập này đề cập đến các hoạt động của họ ở Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái, Campuchia, Nepal, Tây Tạng, Đại Hàn, Nhật, Đức, Anh...
08/11/201920:14(Xem: 2769)
Thanh Từ Thiền Sư, tuyên ngôn như thế, lời vàng đanh thép, lý tưởng cao siêu, muôn đời bất diệt. Phật Giáo Dân Tộc, đồng hành muôn thuở, tuy hai mà một, bền lòng sắc son, nẻo đạo thanh cao, đường đời rộng mở. Ông Dương Ngọc Dũng, mang danh tiến sĩ, học vị giáo sư, nói năng như khỉ, hành vị đáng khinh, giảng đường đại học, kỳ thị tôn giáo, nói xàm nói láo, xúc phạm Phật giáo, bôi nhọ Tăng Ni.