Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thử luận về sự tồn tại và phát triển của PG.

09/04/201317:16(Xem: 1784)
Thử luận về sự tồn tại và phát triển của PG.


THỬ LUẬN VỀ SỰ TỔN TẠI
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO

GS.NGÔ GIA HY

---o0o---

Sự sống và sự chết luôn luôn là một ám ảnh của con người. Vừa mới lọt lòng ra đã bắt đầu chết rồi, mà chết sẽ ra sao và đi về đâu? Đức Phật Thích Ca hơn 2500 năm về trước cũng đã tự đặt câu hỏi này. Ngài đã dày công đi tìm sự giải đáp qua những nhà hiền triết, ẩn dật và tu hành, nhưng không có kết quả. Sau cùng chính Đức Phật đã tự tìm thấy lời giải đáp. Sống và chết, tồn tại và mất đi chỉ là những dạng biến hoá của sự vật theo quy luật duyên sinh, nhân quả và luân hồi .

Người đã đi tìm sự vật ở ngoài bản thân và không biết rằng nó đã có sẵn ở nội tại con người. Không có một siêu lực nào định đoạt vận mạng của con người, trong kiếp này cũng như trong kiếp sau. Chính con người là chủ vận mạng của mình .

Phật pháp như vậy đã trả lại cho người một quyền lực tối hậu và một địa vị cao quý nhất trong hoàn vũ. Không những thế mỗi người đều có tâm Phật, còn lại là làm thế nào để giữ nó và phát huy nó. Phật không những đã chỉ cho ta lối đi mà còn dạy cho ta cách đi, nhưng đi tới hay không thì mỗi cá nhân phải tự bản thân mình làm việc này. Thiết nghĩ đây là một lý do chính của sự tồn tại và phát triển Phật pháp .

Phật pháp còn đem lại cho con người một nếp sống lạc quan, và tự tin mà không phải dựa vào một thế lực nào với điều kiện là thể hiện được tâm Bát nhã ba la mật tức vô phân biệt, tự tại an nhiên. Đạt được điều này sẽ hết lo và sợ, hết hận thù và chám giết. Tâm sẽ bình thì thiên hạ sẽ bình. Phật giáo không truyền giáo bằng gươm giáo, quyền hành, tiền bạc mà bằng tự sự giác ngộ và giác tha. Phật pháp như vậy là hiện thân của hoà bình. Trên thế gian này có bao nhiêu người không chuộng hoà bình, ngoại trừ những kẻ lấy chiến tranh và chém giết làm lẽ sống .

Một nguyên nhân thứ ba của sự tồn tại và phát triển Phật giáo, là Phật giáo không phải là một tôn giáo theo ý nghĩa thông thường mà là một Đạo, một con đường sống, một vũ trụ quan và nhân sinh quan mà bất kể ai và ở đâu, lúc nào cũng có thể theo được. Kinh kệ, cơ sở thờ phượng, tổ chức chỉ là những phương tiện chứ không phải là những yếu tố định đoạt. Nói một cách khác, đạo Phật là của mọi người chứ không phải là một độc quyền của một dân tộc, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nào. Phật giáo cũng không tranh giành ưu thế với các tôn giáo khác. Vạn sự đã là sắc –không nữa là địa vị và ưu thế .

Ở thời nhà Trần, Phật giáo được coi như quốc giáo vì chính vua là người thấm nhuần Phật pháp. Còn các vị tu hành đâu có màng tới chức vị trong triều đình và ngoài thế gian .

Sau cùng, chính vì những tính chất trình bày ở trên mà Phật giáo không hề có tham vọng chiếm địa vị độc tôn trong một con người cũng như một xã hội, một quốc gia …Một hành giả vẫn có thể đến nhà thờ Ki Tô giáo, một người theo đạo Ki Tô vẫn có thể theo Phật pháp. Phật chưa bao giờ đòi hỏi một người phải từ bỏ sự tín ngưỡng gốc của mình hay người Việt Nam phải dẹp bàn thờ tổ tiên.

Đấy là những lý do để Phật giáo tồn tại và phát triển trong các nền văn hoá .

(Nguyện san Giác Ngộ số 54 / 2000)

---o0o---
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/201407:16(Xem: 3508)
Một trong những nền tảng quan trọng của đạo đức Phật giáo là tuân theo tinh thần bất bạo động. Mục đích của tôi trong bài viết sau đây là trình bày những ảnh hưởng của lời nguyện ước này trong mối quan hệ với việc đối xử với phạm nhân. Chấp nhận trừng phạt có liên hệ đến chủ tâm bắt phạm nhân phải chịu thiệt hại, tôi lập luận rằng cách áp dụng trừng phạt là không phù hợp với nguyên tắc bất bạo động
01/11/201706:29(Xem: 2564)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng
06/09/201015:16(Xem: 2188)
“Trước sự Nô Lệ của Con Người” là nhan đề chúng tôi dùng để gọi tập sách này, gồm những bài viết và những bài thảo luận quan trọng mà chúng tôi đã trình bày trong những hội nghị quốc tế và quốc nội. Những vấn đề đặt ra trong tập sách đều nhắm vào một trọng tâm độc nhất: tìm lại con đường của văn hoá Việt Nam trước sự nô lệ của con người để khai quan một chân trời cho ý thức tự do của nhân tính
09/12/201023:09(Xem: 1522)
Tiến trình cục bộ hóa Phật giáo có thể nói là bắt đầu từ sự phân chia các bộ phái Phật giáo, sau đó là sự phân chia các tông phái. Tự thân sự phân chia Phật giáo thành những bộ phái, tông phái không thể coi là tiến trình cục bộ hóa. Nhưng sự khép kín cô lập, thậm chí là phát sinh mâu thuẫn giữa các bộ phái, tông phái có thể coi là tiến trình “cục bộ hóa”.
25/01/201211:52(Xem: 1768)
Sau một loạt bài khẳng định vai trò của truyền thông hiện đạiđối với hoạt động hoằng pháp của Phật giáo, người viết thấy cần thiết phải có bài viết này, để mang đến cho người đọc một cái nhìn đầy đủ và toàn diện đối với truyền thông hiện đại.
25/01/201211:39(Xem: 1902)
Truyền thông hiện đại được xem là phương tiện mới để đưa Phật pháp đến với đông đảo Tăng Ni Phật tử và nhân sanh. Nhưng truyền thông không chỉ đơn thuần là một phương tiện. Phương tiện không phải tách rời hoàn toàn nội dung mà nó chuyên chở. Phương tiện có tác dụng nhất định đối với nội dung mà nó truyền tải. Trường hợp truyền thông hiện đại đối với đạo Phật đang được tìm hiểu ở đây cũng thế. Khả năng lớn lao của truyền thông hiện đại trong việc quảng bá tư tưởng vừa đóng góp, đồng thời, cũng vừa tạo ra những vấn đề lớn đối với sự phát triển của tư tưởng Phật giáo.
14/05/201406:32(Xem: 3867)
Bài viết dưới đây được dịch từ một bản tiếng Pháp mang tựa là Compassion, medecin insurpassable (Lòng Từ Bi, một vị lương y vô song) của một học giả Phật Giáo rất uyên bác là bà Sofia Stril-Rever. Bài viết này được đăng trên tập san Dharma số 46 (tháng 10, 2003) với chủ đề Compassion et Médecine (Từ Bi và Y Khoa), độc giả cũng có thể tra cứu bài viết này trên mạng internet tại : http://www.buddhaline.net/La-compassion-une-energie-de Bài chuyển ngữ này là một trong loạt những bài với chủ đề "Quan điểm của Phật Giáo đối với sự đau đớn và bệnh tật". Các bài khác đã được phổ biến là: - Đức Phật thuyết giảng về sự đau đớn (Kinh Sallatha Sutta) - Đức Phật từng cảm nhận các giác cảm đau đớn (Kinh Sakalika Sutta) - Giáo huấn của Đức Phật về sự đau đớn và khổ đau (Rich Heller) - Thái độ của người Phật Giáo về sự đau đớn (Ajahn Brahmavamso Mahathera) - Cái chết là một thứ bệnh ung thư (Ajahn Liem) - Y khoa cũn
11/03/201703:50(Xem: 2652)
Do vì đặc thù, cho nên bảy hạng đệ tử Phật (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di ni, Thích xoa Ma na, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di) từ trong thời Phật còn tại thế và hôm nay, ai cũng phải có tâm từ bi là một quy luật ắt phải có sau khi quay về Đạo Phật (Quy y tam bảo) trở thành Phật tử xuất gia. Được có tâm từ bi, là phải học và thực tập Phật Pháp. Dù là những oanh vũ nam, oanh vũ nữ trong tập thể GĐPT, đều phải học đạo lý từ bi và thực tập từ bi, được thấy ở những câu: em thương người và vật, em kính mến cha, mẹ và thuận thảo với anh chi, em.
08/12/201713:37(Xem: 4509)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
01/03/202016:44(Xem: 2394)
Kinh Viên Giác là kinh đại thừa đốn giáo được Phật cho đó là “Con mắt của 12 bộ kinh”. “Con mắt” ở đây theo thiển ý có nghĩa là Viên Giác soi sáng nghĩa lý, là điểm tựa, là ngọn hải đăng cho các bộ kinh để đi đúng “chánh pháp nhãn tạng”, không lạc vào đường tà và tu thành Phật. Khi nghe kinh này, đại chúng kể cả chư Phật và chư Bồ Tát đều phải vào chánh định/tam muội, không bình thường như những pháp hội khác.