Cải cách tâm trước hết

09/04/201316:15(Xem: 8203)
Cải cách tâm trước hết

chu-Tam

 

Trước hết, cho phép tôi với tư cách là một Phật tử có tuổi, hiện nay đang giảng dạy Phật học ở Học viện Phật giáo tại TP. Hồ Chí Minh, gởi lời nồng nhiệt chào mừng quý vị, tán thán những Phật sự mà quý vị đã và đang làm, vì tương lai của trẻ thơ, vì hạnh phúc của đồng bào nghèo.

Những việc làm của quý vị rất bình thường và thiết thực, và cũng chính vì lẽ bình thường và giản đị đó mà chúng có ý nghĩa rất lớn lao. Những việc làm này, ở đâu cũng làm được, miễn là chúng ta có một tấm lòng.

Vì sao đạo Phật đề cao chữ Tâm?

Đó là vì Tâm hay lòng là cái tinh yếu nhất, cốt lõi nhất trong con người và trong mọi hành động của con người. Ở các chùa Việt Nam, trong các khóa lễ sớm hay chiều, Tăng Ni Phật tử thường tụng một bài kinh ngắn gọi là Tâm kinh. Tâm kinh tuy chỉ có 120 chữ nhưng lại là tinh yếu, là cốt lõi của ba tạng kinh điển Phật giáo gồm có hàng nghìn quyển và hàng vạn lời. Cũng như vậy, hoạt động của con người tuy đa dạng nhiều màu nhiều vẻ, nhưng giá trị đích thực của chúng, nói cho cùng, cũng chỉ quy về một chữ Tâm mà thôi. Vì vậy mà thi hào Nguyễn Du, trong đoạn kết thúc Truyện Kiều, đã viết:

“Thiện căn bởi tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Đúng như vậy, gốc của mọi điều thiện, tức thiện căn, chính là ở nơi lòng người, tâm người. Có tài không bằng có tâm, bởi vì như thi hào Nguyễn Du nói:

“Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần”

Chữ tài không những có giá trị chỉ bằng một phần ba chữ tâm, mà chữ tài lại thường kéo theo tai họa, nếu người có tài mà không có tâm tốt, không có lòng lành.

Chúng ta hãy nghĩ xem. Tham nhũng thường là những người có chức có quyền. Họ không phải là người bất tài. Nhưng vì thiếu cái tâm vì dân, vì nước, cho nên càng có tài, càng tham nhũng, càng đục khoét tợn. Thậm chí họ còn lý luận: Hy sinh đời bố, củng cố đời con. Họ không nhớ lời Bụt dạy: Tham thì thâm.

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham. Thế là cái gì phải đến đã đến. Nhà lao Chí Hòa mở cửa đón họ, thậm chí súng của pháp trường kết liễu đời họ.

Đối với đạo Phật, tất cả những lời nói hay những cử chỉ gọi là đẹp, nếu không xuất phát từ tấm lòng thật sự thiện, thì chỉ là vô nghĩa, hay chỉ là giả dối kệch cỡm mà thôi. Vì vậy mà trong dân gian có câu: Của người Bồ tát, của mình lạt buộc.

Ý nói, đối với của cải người khác, của Nhà nước, của dân thì mình phung phí, xài lớn như vứt tiền qua cửa sổ, thế nhưng đối với đồng tiền của chính mình, hay của gia đình mình thì ky bo, tính toán chi li từng đồng xu. Ý nói đối với của người thì xử sự như là Bồ tát là theo nghĩa như vậy.

Chính như vậy mà tu theo đạo Phật, chủ yếu là tu tập cái tâm của mình khiến cho tâm trước đây nghĩ điều ác thì nay chỉ nghĩ điều thiện, điều lành mà thôi, mà cũng nhờ cái tâm suy nghĩ toàn điều thiện mà trước kia tâm bị mê mờ, thì nay tâm trở nên sáng suốt, cái tâm trước kia tán loạn, nay trở nên định tĩnh, thanh thản. Hạnh phúc đích thực của con người, chính là cái tâm bình tĩnh sáng suốt và thuần thiện đó.

Trong kinh Pháp Cú, một kinh nổi tiếng thuộc Phật giáo Nam tông, có hai bài kệ 42 và 43.

“Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân”

Ý tứ bài kệ nói: Cái tâm nghĩ ác, đem lại tai hại cho mình còn hơn là kẻ thù hại mình.

Trái lại, có những điều tốt lành mà cha mẹ, anh em, bà con muốn làm cho mình, thì chính cái tâm hướng thiện còn làm tốt hơn. Vì vậy, bài kệ 43 kinh Pháp Cú viết:

“Điều mẹ cha bà con

Không có thể làm được

Tâm hướng thiện làm được

Làm được tốt đẹp hơn”

Đức Phật từng ví thân tâm người thiện như cái cây, hút toàn những chất ngọt ở trong đất và thân tâm người ác như cái cây có bộ rễ hút toàn những chất đắng ở trong đất. Vì sao cảnh ngộ của người thiện thường là an vui, may mắn, tiếng lành đồn xa. Còn cảnh ngộ của người ác thì bức xúc và đầy lo âu, gặp chuyện bất hạnh, và tiếng dữ của người này cũng đồn xa, bạn bè và người thân đều lánh mặt! Lý do nói cho cùng cũng là do một bên thì tâm nghĩ toàn điều thiện, và một bên thì tâm nghĩ toàn chuyện ác.

Đó chính là bài học đầy minh triết của đạo Phật cũng như của nhiều đạo giáo khác. Đó cũng là bài học của cuộc sống. Cách đây vài ngày, đúng vào ngày 2 tháng 9, tôi có gặp lại ngài nguyên Cố vấn Phạm Văn Đồng, vốn là thủ trưởng của tôi ở Phủ Thủ tướng từ năm 1950 đến 1960, ngài Phạm Văn Đồng tuy đã 94 tuổi nhưng vẫn tráng kiện và minh mẫn. Ngài giơ tay ra và xăn áo lên để cho tôi nắn. Tuy tay tôi nắn rất mạnh, nhưng ngài vẫn không nhúc nhích. Đúng là ngài còn rất khỏe, không phải là thượng thọ mà là thượng thượng thọ. Ngài cười và nói: “Tôi khỏe như thế này cũng là nhờ ông Phật”.

Đối với đạo Phật, thì Phật tức là lòng. Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhà Phật học xuất sắc nhất đời Trần, và là thầy dạy của vua Trần Nhân Tông có làm bài ca với đầu đề “Phật tâm ca” và mở đầu với hai câu: “Phật tức Tâm, Tâm tức Phật..."

Nhà đại văn hào Nguyễn Trãi đời Hậu Lê cũng viết: “Bụt ấy là lòng, Bụt há cầu”.

Nếu lòng chúng ta, tâm chúng ta trong sáng, thanh thản, nghĩ toàn điều tốt lành, thì tâm chúng ta, lòng chúng ta tức là Phật rồi, không cần cầu ông Phật ở đâu xa. Khi ngài Phạm Văn Đồng nói nhờ ông Phật mà ngài có sức khỏe, có phải chăng ngài muốn nói về già, đến hơn 90 tuổi, tâm của ngài, lòng của ngài đã trở nên thanh thản, bình lặng, trong sáng, không còn mong cầu gì nữa, ngoài mong cầu cho đất nước yên bình, xã hội giàu mạnh và công bằng, nhân dân được hạnh phúc.

---o0o---


Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/08/2010(Xem: 11349)
Không giống những tôn giáo khác và những lý thuyết hiện đại về kinh tế học, đạo Phật cho rằng kinh tế học gắn liền với đạo đức học và lý thuyết về hành vi (kamma). Mặc dù nhiều nhà kinh tế xem kinh tế học là một khoa học “tích cực” của một loại hiện tượng xã hội, nhưng dưới cái nhìn của đạo Phật, kinh tế học có quan hệ đặc biệt với đạo đức học. Lý thuyết kinh tế học của đạo Phật nhấn mạnh quan điểm về sự chủ tâm (cetan(, tác ý) trong việc giải thích tư cách đạo đức con người. Trong bài này, tác giả cố gắng giải thích vài khái niệm quan trọng trong kinh tế học như đã được mô tả trong kinh điển đạo Phật để cho thấy rằng đạo đức học đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế học và do đó có một tầm quan trọng lớn đối với kinh tế học và ngược lại.
30/08/2010(Xem: 7921)
Đức Phật có đề cập gì đến sinh hoạt kinh tế hay không. Khi theo dõi những hậu quả của kinh tế thị trường, tôi còn phải đi tìm hiểu lập trường của Phật giáo về các vấn đề môi sinh, nhất là đối với việc khai thác tài nguyên không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ (và những chế độ chính trị đưa đến nghèo khổ), đối với chủ trương tiêu thụ hàng hóa thả cửa, đối với công ăn việc làm, vai trò của từ bi trong các hoạt động thương mãi và cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn giáo đều muốn có câu trả lời: ý nghĩa của đời sống là gì?
28/08/2010(Xem: 83122)
Quyển 6 • Buổi Pháp Thoại Trên Đỉnh Cao Linh Thứu (Gijjhakūṭa) • Ruộng Phước • Tuệ Phân Tích Của Tôn Giả Sāriputta • MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI CHÍN (Năm 569 trước TL)- Mỹ Nhân Giá Mấy Xu? • Chuyện Cô Sirimā • Móc Cho Con Mắt Đẹp • Ngạ Quỷ Mình Trăn • Cùng Một Nguyên Lý • “Hớt” Phước Của Người Nghèo! • Ghi chú đặc biệt về hạ thứ 19: • MÙA AN CƯ THỨ HAI MƯƠI (Năm 568 trước TL)-Phước Cho Quả Hiện Tại • Bảy Thánh Sản • Chuyện Kể Về Cõi Trời • Hóa Độ Gia Đình Thợ Săn • Nhân Duyên Quá Khứ
28/08/2010(Xem: 10217)
Văn hóa và giáo dục Phật giáo là phương tiện để ươm mầm và nuôi dưỡng hạt giống bồ đề tâm trong từng cá thể xã hội. Khi những hạt mầm lớn lên sẽ là những con người đi vào cuộc đời bằng tâm bồ đề, bằng trí giác ngộ, bằng trái tim từ bi để không những thắp sáng lý tưởng cao cả của Phật Đạo, mà còn là những nhân tố hữu ích để góp phần xây dựng và phát triển xã hội.
28/08/2010(Xem: 84126)
Sau khi sinh hoạt của hội chúng đã tạm thời đi vào quy củ, nền nếp; đức Phật thấy thời tiết có nắng nhẹ, trời không lạnh lắm, thuận lợi cho việc du hành nên quyết định rời Gayāsīsa, đến kinh đô Rājagaha, đường xa chừng sáu do-tuần. Thấy đoàn sa-môn quá đông, khó khăn cho việc khất thực, đức Phật gợi ý với ba anh em Kassapa cho chúng đệ tử phân thành từng nhóm,
08/08/2010(Xem: 4709)
Làm sao để mọi người đều có thể áp dụng lối sống lành mạnh? Làm sao để xã hội phát triển bền vững, hài hòa? Làm sao để mỗi người được sống hạnh phúc? Tại sao nhiều người đã biết rằng hút thuốc, uống rượu và sử dụng các chất gây nghiện là có hại cho sức khỏe mà họ vẫn không từ bỏ nó? Tại sao nhiều người biết rằng khí hậu toàn cầu đang biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với trái đất nhưng hàng ngày vẫn có những hành động trực tiếp, gián tiếp làm tổn hại đến môi trường sống?...
03/08/2010(Xem: 20093)
Mặc dù được xem như là một tôn giáo, thì Phật giáo vẫn là một trong các truyền thống tri kiến vĩ đại nhất của thế giới, được dựa trên cơ sở về trải nghiệm và lập luận hơn là việc tin tưởng không điều kiện vào thần quyền. Trong nhiều thế kỷ, đạo Phật đã đối thoại với các truyền thống khác ở châu Á như là Ấn giáo, Khổng giáo và Lão giáo, đó là các truyền thống vốn có các luận điểm riêng về thực tại. Nhưng đến kỷ nguyên mới này, thì sự thống trị lại thuộc về khoa học hiện đại vốn là một hệ thống truy cứu và tri kiến về thế giới tự nhiên một cách có lập luận, cho nên nếu muốn duy trì vị thế sẵn có như là một truyền thống thực nghiệm và tập luận truy cứu nghiêm cẩn, thì Phật giáo phải đối mặt với khoa học.
22/07/2010(Xem: 18232)
Tôi phải thú nhận rằng hình như có điều gì không ổn khi một người suốt đời sống trong thế tục như tôi lại viết lời giới thiệu cho một quyển sách về giáo lý của Đức Phật về sự thành đạt, trí tuệ và bình an nội tâm. Quan điểm của tôi về tôn giáo đã bị chỉ trích nhiều, vì tôi tin rằng hầu hết các tôn giáo đều là một hình thức tâm bị nhiễm vi-rút (virus) làm lây nhiễm chúng sanh bình thường mạnh khỏe –và thường là có tri thức. Chỉ có Phật giáo dường như tách biệt với các tôn giáo khác vì tính chất cởi mở, uyển chuyển và thực dụng. Do đã sống hơn nữa thể kỷ ở Sri Lanka, tôi đã nhìn thấy giáo lý của Đức Phật đã được áp dụng như thế nào bởi nhiều thành phần xã hội, bằng nhiều phương cách khác nhau. Dầu nghe có vẻ lạ, nhưng những người hoàn toàn có lý trí và những kẻ bảo thủ một cách điên cuống đều cho rằng niềm tin và thái độ củ
20/07/2010(Xem: 22123)
Với quyển Phật Pháp Cho Mọi Người, chúng tôi tương đối đã đạt được phần nào kết quả khi có thể mang những bài pháp thoại của nhiều tác giả đến với người đọc, nhất là những người sơ cơ như chúng tôi. Cũng đã ba năm kể từ quyển sách đó được phát hành, cũng đã có thêm nhiều bài pháp được chúng tôi chuyển ngữ. Theo sự gợi ý của một số thân hữu, lần này chúng tôi cũng xin tổng hợp các bài dịch rải rác đó đây để mang đến cho quý độc giả xa gần một luồng gió mát của chân Pháp. Mong là chúng tôi không phụ lòng mong đợi của quý độc giả. Dầu đã hết sức cố gắng, nhưng chúng tôi chắc rằng sẽ khó thể tránh những thiếu sót trong phần dịch thuật và biên tập, mong quý tôn sư, quý độc giả hoan hỷ chỉ bày. Lần nữa chúng tôi xin cảm tạ quý đạo hữu luôn chung tay với chúng tôi trong Phật sự này, để một số sách luôn đến tay quý độc giả dưới dạng ấn tống. Nguyện cho phước báu trong Pháp thí này được chia sẻ đến chư thiên, quý ân sư, quý ân nhân, đạo hữu, thân quyến và mọi chúng sanh. Na
18/07/2010(Xem: 18264)
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt đạo Phật trong kinh điển (mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết) với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế. Đạo Phật lý thuyết là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên và tất yếu. Bởi lẽ nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý tưởng và đạo Phật thực tế thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi, và cõi đất này là cõi Phật rồi.