Cải cách tâm trước hết

09/04/201316:15(Xem: 8244)
Cải cách tâm trước hết

chu-Tam

 

Trước hết, cho phép tôi với tư cách là một Phật tử có tuổi, hiện nay đang giảng dạy Phật học ở Học viện Phật giáo tại TP. Hồ Chí Minh, gởi lời nồng nhiệt chào mừng quý vị, tán thán những Phật sự mà quý vị đã và đang làm, vì tương lai của trẻ thơ, vì hạnh phúc của đồng bào nghèo.

Những việc làm của quý vị rất bình thường và thiết thực, và cũng chính vì lẽ bình thường và giản đị đó mà chúng có ý nghĩa rất lớn lao. Những việc làm này, ở đâu cũng làm được, miễn là chúng ta có một tấm lòng.

Vì sao đạo Phật đề cao chữ Tâm?

Đó là vì Tâm hay lòng là cái tinh yếu nhất, cốt lõi nhất trong con người và trong mọi hành động của con người. Ở các chùa Việt Nam, trong các khóa lễ sớm hay chiều, Tăng Ni Phật tử thường tụng một bài kinh ngắn gọi là Tâm kinh. Tâm kinh tuy chỉ có 120 chữ nhưng lại là tinh yếu, là cốt lõi của ba tạng kinh điển Phật giáo gồm có hàng nghìn quyển và hàng vạn lời. Cũng như vậy, hoạt động của con người tuy đa dạng nhiều màu nhiều vẻ, nhưng giá trị đích thực của chúng, nói cho cùng, cũng chỉ quy về một chữ Tâm mà thôi. Vì vậy mà thi hào Nguyễn Du, trong đoạn kết thúc Truyện Kiều, đã viết:

“Thiện căn bởi tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Đúng như vậy, gốc của mọi điều thiện, tức thiện căn, chính là ở nơi lòng người, tâm người. Có tài không bằng có tâm, bởi vì như thi hào Nguyễn Du nói:

“Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần”

Chữ tài không những có giá trị chỉ bằng một phần ba chữ tâm, mà chữ tài lại thường kéo theo tai họa, nếu người có tài mà không có tâm tốt, không có lòng lành.

Chúng ta hãy nghĩ xem. Tham nhũng thường là những người có chức có quyền. Họ không phải là người bất tài. Nhưng vì thiếu cái tâm vì dân, vì nước, cho nên càng có tài, càng tham nhũng, càng đục khoét tợn. Thậm chí họ còn lý luận: Hy sinh đời bố, củng cố đời con. Họ không nhớ lời Bụt dạy: Tham thì thâm.

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham. Thế là cái gì phải đến đã đến. Nhà lao Chí Hòa mở cửa đón họ, thậm chí súng của pháp trường kết liễu đời họ.

Đối với đạo Phật, tất cả những lời nói hay những cử chỉ gọi là đẹp, nếu không xuất phát từ tấm lòng thật sự thiện, thì chỉ là vô nghĩa, hay chỉ là giả dối kệch cỡm mà thôi. Vì vậy mà trong dân gian có câu: Của người Bồ tát, của mình lạt buộc.

Ý nói, đối với của cải người khác, của Nhà nước, của dân thì mình phung phí, xài lớn như vứt tiền qua cửa sổ, thế nhưng đối với đồng tiền của chính mình, hay của gia đình mình thì ky bo, tính toán chi li từng đồng xu. Ý nói đối với của người thì xử sự như là Bồ tát là theo nghĩa như vậy.

Chính như vậy mà tu theo đạo Phật, chủ yếu là tu tập cái tâm của mình khiến cho tâm trước đây nghĩ điều ác thì nay chỉ nghĩ điều thiện, điều lành mà thôi, mà cũng nhờ cái tâm suy nghĩ toàn điều thiện mà trước kia tâm bị mê mờ, thì nay tâm trở nên sáng suốt, cái tâm trước kia tán loạn, nay trở nên định tĩnh, thanh thản. Hạnh phúc đích thực của con người, chính là cái tâm bình tĩnh sáng suốt và thuần thiện đó.

Trong kinh Pháp Cú, một kinh nổi tiếng thuộc Phật giáo Nam tông, có hai bài kệ 42 và 43.

“Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân”

Ý tứ bài kệ nói: Cái tâm nghĩ ác, đem lại tai hại cho mình còn hơn là kẻ thù hại mình.

Trái lại, có những điều tốt lành mà cha mẹ, anh em, bà con muốn làm cho mình, thì chính cái tâm hướng thiện còn làm tốt hơn. Vì vậy, bài kệ 43 kinh Pháp Cú viết:

“Điều mẹ cha bà con

Không có thể làm được

Tâm hướng thiện làm được

Làm được tốt đẹp hơn”

Đức Phật từng ví thân tâm người thiện như cái cây, hút toàn những chất ngọt ở trong đất và thân tâm người ác như cái cây có bộ rễ hút toàn những chất đắng ở trong đất. Vì sao cảnh ngộ của người thiện thường là an vui, may mắn, tiếng lành đồn xa. Còn cảnh ngộ của người ác thì bức xúc và đầy lo âu, gặp chuyện bất hạnh, và tiếng dữ của người này cũng đồn xa, bạn bè và người thân đều lánh mặt! Lý do nói cho cùng cũng là do một bên thì tâm nghĩ toàn điều thiện, và một bên thì tâm nghĩ toàn chuyện ác.

Đó chính là bài học đầy minh triết của đạo Phật cũng như của nhiều đạo giáo khác. Đó cũng là bài học của cuộc sống. Cách đây vài ngày, đúng vào ngày 2 tháng 9, tôi có gặp lại ngài nguyên Cố vấn Phạm Văn Đồng, vốn là thủ trưởng của tôi ở Phủ Thủ tướng từ năm 1950 đến 1960, ngài Phạm Văn Đồng tuy đã 94 tuổi nhưng vẫn tráng kiện và minh mẫn. Ngài giơ tay ra và xăn áo lên để cho tôi nắn. Tuy tay tôi nắn rất mạnh, nhưng ngài vẫn không nhúc nhích. Đúng là ngài còn rất khỏe, không phải là thượng thọ mà là thượng thượng thọ. Ngài cười và nói: “Tôi khỏe như thế này cũng là nhờ ông Phật”.

Đối với đạo Phật, thì Phật tức là lòng. Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhà Phật học xuất sắc nhất đời Trần, và là thầy dạy của vua Trần Nhân Tông có làm bài ca với đầu đề “Phật tâm ca” và mở đầu với hai câu: “Phật tức Tâm, Tâm tức Phật..."

Nhà đại văn hào Nguyễn Trãi đời Hậu Lê cũng viết: “Bụt ấy là lòng, Bụt há cầu”.

Nếu lòng chúng ta, tâm chúng ta trong sáng, thanh thản, nghĩ toàn điều tốt lành, thì tâm chúng ta, lòng chúng ta tức là Phật rồi, không cần cầu ông Phật ở đâu xa. Khi ngài Phạm Văn Đồng nói nhờ ông Phật mà ngài có sức khỏe, có phải chăng ngài muốn nói về già, đến hơn 90 tuổi, tâm của ngài, lòng của ngài đã trở nên thanh thản, bình lặng, trong sáng, không còn mong cầu gì nữa, ngoài mong cầu cho đất nước yên bình, xã hội giàu mạnh và công bằng, nhân dân được hạnh phúc.

---o0o---


Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/06/2013(Xem: 14350)
Theo truyền thống Phật giáo Theravāda, Vesak là lễ kỷ niệm ba sự kiện trọng đại gắn liền với cuộc đời Đức Phật: ngày Đức Phật Đản sinh, ngày Đức Phật Thành đạo, và ngày Đức Phật nhập Niết-bàn.
09/04/2013(Xem: 8088)
Duyên hạnh ngộ với làng Mai: Tôi nghe nói về làng Mai từ lâu. Trước đó là làng Hồng. Không phải là làng trồng hoa hồng, mà là cây hồng ăn quả, như hồng Lạng sơn ở bên nhà. Trồng hồng không được tốt, quả không sai, không ngọt, nên chuyển sang trồng mai.
09/04/2013(Xem: 5786)
Giáo dục Phật giáo lấy tư tưởng nhất thừa làm cứu cánh. Mọi sự phân chia thứ bậc chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh giải thoát Niết bàn. Với tư tưởng nhất thừa, giải thoát không có nghĩa là trốn chạy và Niết bàn không phải là một cõi hư ảo xa xôi.
09/04/2013(Xem: 6095)
Truyền thông là là một trong những phương tiện biểu đạt tư tưởng thông tin đến cho mọi người, ngày nay nhân loại sử dụng nó như là một công cụ hửu hiệu nhất nhằm phục vụ trong tất cả các lảnh vực khác nhau trong đời sống.
09/04/2013(Xem: 5440)
Hiện nay, trên khắp các châu của địa cầu, Á, Âu, Mỹ, Phi, Úc, chỉ trừ châu Nam cực, ở đâu cũng có đồng bào Việt Nam chúng ta sinh sống. Số đồng bào đó có khoảng 2,3 triệu người, tức là cứ khoảng 100 người Việt, . . .
09/04/2013(Xem: 5456)
Chính vào những giai đoạn xáo trộn như hiện nay, con người phân vân trước cuộc sống bao nhiêu thì nhu cầu xét lại gốc rễ nguồn căn làm cơ sở cho hành vi ứng xử của mình, của xã hội lại càng bức thiết bấy nhiêu.
09/04/2013(Xem: 4817)
Ở đây chúng tôi không có ý định viết một bài thuần túy nghiên cứu. Tôi muốn đặt vấn đề và xác nhận lập trường về một bàn cãi có tính cách thời đại: xét lại mối tương quan giữa Khổng giáo và phát triển. Vấn đề này đã và đang gây sôi nổi trên thế giới cũng như trong giới nghiên cứu Hoa kiều và Việt kiều.
09/04/2013(Xem: 6154)
Trong bài này, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ phát triển Phật giáo tại Việt Nam trong mấy thập niên tới, giai đoạn mà Việt nam sẽ được phát triển mạnh về kinh tế, và đời sống dân chúng sẽ được sung túc hơn. Ít nhất đó là những điều mà chúng ta hy vọng.
09/04/2013(Xem: 5804)
Trong các bản văn chữ Phạn thời nguyên thủy, zero được gọi là "sùnya". Theo F. Th. Stcherbatsky, Phật giáo nguyên thủy dùng chữ "sùnya" để gọi tên điểm giới hạn của thế giới thường nghiệm (bhùtakoti). Vậy trên phương diện tục đế, là giới hạn của các số hay tổ hợp số, . . .
09/04/2013(Xem: 6522)
Ở cuối thế kỷ này đời sống con người bị stress làm rối loạn. Stress là tự bất ổn của thời đại văn minh. Ðến ngày nay, trên thế giới, có trên 100.00 tài liệu và trên 200 quyển sách bàn về stress. Những nhà chuyên môn y học tâm thể (psychosomaticien), y học tâm lý (psychophysiologiste), . . .