Phương pháp của Đức Phật

16/11/201016:00(Xem: 14856)
Phương pháp của Đức Phật

 

 

PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT

Kỹ thuật giáo lý của Đức Phật khác hẳn các người khác. Ngài không bao giờ sửa soạn “các bài giảng để nói trước công chúng” hay những “bài diễn thuyết”. Ngài luôn luôn quyết định đề tài căn cứ vào sự việc xảy ra bất ngờ hay từ nhận xét. Một trong những điểm kỳ tài của Đức Phật và tài năng của bậc Mô Phạm này là việc thực hành phương pháp giáo huấn điêu luyện áp dụng từ “cái biết đến cái không biết”. Thí dụ trong một dịp, Ngài cùng các đệ tử đang đi bộ trên bờ một con sông, Ngài nhìn thấy có một khúc gỗ đang bồng bềnh trôi giữa dòng nước, Ngài dừng lại và hỏi :” Các ông nghĩ gì về khúc gỗ này ? Khúc gỗ sẽ ra sao ? Một đệ tử trả lời :”Khúc gỗ sẽ dạt vào hòn đảo giữa sông “. Những đệ tử khác nói :”Nước sẽ vào khúc gỗ và khúc gỗ sẽ bị chìm ” ,“ Khúc gỗ sẽ được người ta lấy , cắt ra để làm củi sưởi “ , “Khúc gỗ sẽ trôi ra biển “. Bây giờ ai là người nói đúng ? Ai là người có thể tiên đoán trúng số phận khúc gỗ ? Rồi Đức Phật giảng cuộc sống chúng ta giống khúc gỗ trôi trên dòng nước hoàn toàn bất trắc. Không ai có thể biết được cái gì sẻ xảy đến với chúng tangày mai hay tháng sau. Phương pháp của Đức Phật là lấy những bài học từ đời sống thường nhật cho nên giáo lý của Ngài luôn rút từ mầm mống nơi này nơi kia và hoàn toàn thích hợp cho kinh nghiệm của con người.

Theo đường lối như trên, Ngài thừa nhận con người hoàn toàn tự do suy nghĩ, sử dụng giác quan thông thường để nhận định. Ngài không trình bày một tôn giáo thực hành vì áp bức, do sợ hãi và ham muốn dục lạc.

Theo Đức Phật, một ý nghĩ, một lời nói cao đẹp mà không có hành động tương xứng theo sau, thì chẳng khác nào như bông hoa đẹp không hương, không kết trái.

Bát chánh đạo trình bày bởi Đức Phật là lớp đào luyện văn hoá và tiến bộ nội tâm. Chỉ tin cậy vào những sùng bái bên ngoài, nghi lễ và cầu nguyện, con người không thể tiến bộ trong việc phát triển nội tâm thích đáng. Chỉ trông vào cầu nguyện để được cứu rỗi, theo Đức Phật, cũng giống như :” đòi hỏi bờ sông bên kia chuyển qua bên này để khỏi phải mất công mệt sức”.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2014(Xem: 16935)
Để thảo luận về vấn đề Hoà Bình theo quan điểm của Kim Cang Thừa ta cần tìm hiểu hai khái niệm Hoà Bình và Kim Cang Thừa cùng những truyền thống đặc sắc của Kim Cang Thưà. Trong phạm vi này, thì tìm hiểu tiến trình của Kim Cang Thưà trong mối quan hệ với các truyền thống Phật giáo khác và nhận thức về mối quan hệ gắn bó giữa Hoà bình và Kim Cang Thừa là vấn đề khả thi. Mặc dù Phật giáo Kim Cang Thừa có ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nơi khác, nhưng tiểu luận sau đây sẽ đặt trọng tâm vào truyền thống Tây Tạng.
09/03/2014(Xem: 42772)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
20/02/2014(Xem: 17204)
Trong kinh Pháp Cú, câu 103 Đức Phật có dạy: Người kia ở chiến trường Tuy thắng trăm muôn giặc, Chưa bằng thắng chính mình, Là chiến sĩ bậc nhất.
20/02/2014(Xem: 25422)
Chiều hôm nay, tôi đang ở trong cốc thì Thầy Viện Trưởng đến, Thầy gọi tôi và đưa cho tôi quyển sách này, Thầy nói: "Thầy thấy Từ Đức thích dịch sách của ngài Đạt Lai Lạt Ma nên Thầy mua quyển sách này, con đọc rồi dịch, khi nào xong thì đưa cho Thầy!" Tôi thích quá, thật khó tả. Tôi chỉ mĩm cười, khẻ nói "Dạ" và cầm lấy quyển sách. Thế là ngay hôm ấy tôi liền bắt tay vào dịch những dòng đầu tiên của quyển sách để lấy ngày, 20 – 11 – 2010.
10/02/2014(Xem: 30969)
Lama Thubten Yeshe sinh năm 1935 tại Tây Tạng. Mới sáu tuổi, Ngài đã vào học tại Sera Monastic University ở Lhasa, một trong những tu viện lớn và nổi tiếng của Tây Tạng. Ngài học tại đây tới năm 1959
05/02/2014(Xem: 26900)
Bất cứ ai sinh ra trong thế gian này đều nghĩ rằng trong ta phải có một cái linh thiêng, làm chủ mạng sống của mình và gọi đó là “Cái Tôi” tức là bản Ngã. Từ đó những vật sở hữu của họ thì gọi là “Cái Của Tôi”. Khi cảm tính về “Cái Tôi” hiện lên thì tính ích kỷ, tính tư lợi hay là tự xem ta là trung tâm (self-centered) cũng bắt đầu bùng phát.
30/01/2014(Xem: 28424)
Bài viết này là của Tiến Sĩ Pinit Ratanakul. Ông tốt nghiệp Cao Học tại Đại Học Chulalongkom, Thái Lan và lấy bằng Tiến Sĩ tại Đại Học Yale, Tiểu Bang Connecticut, Hoa Kỳ. Ông là giáo sư triết và là giám đốc Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo tại Đại Học Mahidol, Thái Lan. Ông là tác giả của cuốn sách “Bioethics: An Introduction to the Ethics of Medicine and Life
12/01/2014(Xem: 14724)
Johan Galtung là Giáo sư Đại học Hawaii và được mời thỉnh giảng trên 30 Đại học nổi tiếng khắp thế giới. Ông còn là Giám Đốc của Transcend và Peace Research Institute, Olso. Với trên 50 ấn phẩm và 1000 công trình nghiên cứu khoa học về Hoà Binh ông đã nổi danh là người sáng lập cho lĩnh vực Peace Studies. Với những đóng góp to lớn này ông được nhiều giải thưỏng cao qúy. Tác phẩm chính trong lĩnh vực Phật học là „Buddhism: A Quest for Unity and Peace” (1993). Các tiểu tựa là của người dịch.
20/12/2013(Xem: 52980)
THIỀN, được định nghĩa, là sự tập-trung Tâm, chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Tôi chia THIỀN làm hai loại, Thiền giác ngộ (Meditation for Enlightenment) và Thiền sức khỏe (Meditation for Health). Tập sách nầy chỉ bàn về Thiền sức khỏe mà thôi.
17/12/2013(Xem: 21844)
Khi mới thành đạo, đức Phật đã nói: “Lạ thay tất cả chúng sanh đều có đức tính trí huệ của Như Lai mà bị vô minh che lấp nên không phát hiện ra được”. Và bản nguyện của Phật là muốn khai thị cho chúng sanh ngộ nhập được tri kiến Phật của