Niết bàn

16/11/201015:58(Xem: 14604)
Niết bàn

 

 

NIẾT BÀN

Đức Phật không bao giờ tuyên bố là đã tạo ra Pháp. Cái mà Ngài khám phá ra là chân lý phổ quát của bản chất xác thực của sự hiện hữu. Thật ra một số từ ngữ tôn giáo đã được biết tại Ấn độ thời đó. Nhưng điều vô song của Ngài là dùng những quan niệm sẵn có, bổ khuyết nghĩa lý sáng suốt hơn và sâu xa hơn.

Thí dụ, trước thời Đức Phật, Niết Bàn ( Nirvana hay Nibbana) đơn thuần chỉ có nghĩa là an lạc hay dập tắt. Nhưng Ngài định nghĩa rộng ra. Niết (Ni) có nghĩa “Không” và “Bàn” (Vana) có nghĩa dục vọng : Không còn dục vọng, không còn luyến ái, và không còn vị kỷ. Chúng ta không thể chứng nghiệm được Niết Bàn vì chúng ta còn dục vọng, luyến ái và vị kỷ. Khi chúng ta đã quét sạch được những tính xấu nhơ bẩn này, chúng ta sẽ chứng nghiệm hạnh phúc Niết Bàn. Thật khó khăn để chúng ta chứng nghiệm được chân hạnh phúc vì chúng ta có những cảm xúc, và chúng ta còn ham muốn dục lạc. Nếu chúng ta sống vướng mắc mãi dục lạc trên thế gian này, chúng ta không bao giờ có thể chứng nghiệm được chân hạnh phúc. Lẽ dĩ nhiên thật ra chúng ta cũng chứng nghiệm được một vài loại hạnh phúc trong cuộc sống, nhưng không phải đúng “hạnh phúc” theo nghĩa tuyệt đối vì lẽ hạnh phúc này không vĩnh cửu.

Chúng ta không thể đạt được hạnh phúc khi còn chứa chấp giận hờn, oán ghét, vị kỷ hay ảo tưởng sai lầm. Đôi khi ở một mức độ nào đó chúng ta chứng nghiệm được một sự thoải mái về tinh thần nhưng bản chất của hạnh phúc đó chỉ như ánh chớp : Nó vừa hiện ra lại biến mất ngay. Hạnh phúc chân thật không phải như vậy. Nếu có chân hạnh phúc, chúng ta sẽ chứng nghiệm cảm giác vĩnh cửu của sự thanh thản, thoả mãn và an tâm. Cho nên mục đích chính của đời sống chúng ta là phải thanh tịnh hóa những tư tưởng mờ ám, sai lầm, lạc hướng của chúng ta và tự chúng ta giải thoát khỏi các lo âu, băn khoăn, bối rối. Chúng ta còn bỏ nhiều thời gian để giải quyết những khó khăn, lúc nào cũng canh chừng, lúc nào cũng lo lắng phải làm cái gì tiếp đây thì chúng ta không bao giờ được an lạc.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2014(Xem: 16935)
Để thảo luận về vấn đề Hoà Bình theo quan điểm của Kim Cang Thừa ta cần tìm hiểu hai khái niệm Hoà Bình và Kim Cang Thừa cùng những truyền thống đặc sắc của Kim Cang Thưà. Trong phạm vi này, thì tìm hiểu tiến trình của Kim Cang Thưà trong mối quan hệ với các truyền thống Phật giáo khác và nhận thức về mối quan hệ gắn bó giữa Hoà bình và Kim Cang Thừa là vấn đề khả thi. Mặc dù Phật giáo Kim Cang Thừa có ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nơi khác, nhưng tiểu luận sau đây sẽ đặt trọng tâm vào truyền thống Tây Tạng.
09/03/2014(Xem: 42772)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
20/02/2014(Xem: 17204)
Trong kinh Pháp Cú, câu 103 Đức Phật có dạy: Người kia ở chiến trường Tuy thắng trăm muôn giặc, Chưa bằng thắng chính mình, Là chiến sĩ bậc nhất.
20/02/2014(Xem: 25422)
Chiều hôm nay, tôi đang ở trong cốc thì Thầy Viện Trưởng đến, Thầy gọi tôi và đưa cho tôi quyển sách này, Thầy nói: "Thầy thấy Từ Đức thích dịch sách của ngài Đạt Lai Lạt Ma nên Thầy mua quyển sách này, con đọc rồi dịch, khi nào xong thì đưa cho Thầy!" Tôi thích quá, thật khó tả. Tôi chỉ mĩm cười, khẻ nói "Dạ" và cầm lấy quyển sách. Thế là ngay hôm ấy tôi liền bắt tay vào dịch những dòng đầu tiên của quyển sách để lấy ngày, 20 – 11 – 2010.
10/02/2014(Xem: 30969)
Lama Thubten Yeshe sinh năm 1935 tại Tây Tạng. Mới sáu tuổi, Ngài đã vào học tại Sera Monastic University ở Lhasa, một trong những tu viện lớn và nổi tiếng của Tây Tạng. Ngài học tại đây tới năm 1959
05/02/2014(Xem: 26900)
Bất cứ ai sinh ra trong thế gian này đều nghĩ rằng trong ta phải có một cái linh thiêng, làm chủ mạng sống của mình và gọi đó là “Cái Tôi” tức là bản Ngã. Từ đó những vật sở hữu của họ thì gọi là “Cái Của Tôi”. Khi cảm tính về “Cái Tôi” hiện lên thì tính ích kỷ, tính tư lợi hay là tự xem ta là trung tâm (self-centered) cũng bắt đầu bùng phát.
30/01/2014(Xem: 28424)
Bài viết này là của Tiến Sĩ Pinit Ratanakul. Ông tốt nghiệp Cao Học tại Đại Học Chulalongkom, Thái Lan và lấy bằng Tiến Sĩ tại Đại Học Yale, Tiểu Bang Connecticut, Hoa Kỳ. Ông là giáo sư triết và là giám đốc Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo tại Đại Học Mahidol, Thái Lan. Ông là tác giả của cuốn sách “Bioethics: An Introduction to the Ethics of Medicine and Life
12/01/2014(Xem: 14724)
Johan Galtung là Giáo sư Đại học Hawaii và được mời thỉnh giảng trên 30 Đại học nổi tiếng khắp thế giới. Ông còn là Giám Đốc của Transcend và Peace Research Institute, Olso. Với trên 50 ấn phẩm và 1000 công trình nghiên cứu khoa học về Hoà Binh ông đã nổi danh là người sáng lập cho lĩnh vực Peace Studies. Với những đóng góp to lớn này ông được nhiều giải thưỏng cao qúy. Tác phẩm chính trong lĩnh vực Phật học là „Buddhism: A Quest for Unity and Peace” (1993). Các tiểu tựa là của người dịch.
20/12/2013(Xem: 52980)
THIỀN, được định nghĩa, là sự tập-trung Tâm, chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Tôi chia THIỀN làm hai loại, Thiền giác ngộ (Meditation for Enlightenment) và Thiền sức khỏe (Meditation for Health). Tập sách nầy chỉ bàn về Thiền sức khỏe mà thôi.
17/12/2013(Xem: 21844)
Khi mới thành đạo, đức Phật đã nói: “Lạ thay tất cả chúng sanh đều có đức tính trí huệ của Như Lai mà bị vô minh che lấp nên không phát hiện ra được”. Và bản nguyện của Phật là muốn khai thị cho chúng sanh ngộ nhập được tri kiến Phật của