Chương 8: Luận lý về từ bi

12/11/201017:43(Xem: 12390)
Chương 8: Luận lý về từ bi


Chương8

LUÂNLÝ VỀ TỪ BI

Chúngta đã ghi nhận trước đây rằng mọi tôn giáo chính trênthế giới đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việcvun bồi tình thương và tâm từ bi. Trong truyền thống triếtlý Phật giáo, các trình độ thành đạt khác nhau được môtả. Ở trình độ căn bản, từ bi (nying je) được hiểu theonghĩa chủ yếu là thiện cảm (hoặc cảm thông) — khả năngđi vào, và ở một mức độ nào đó, chia sẻ đau khổ củangười khác. Nhưng Phật giáo — và có thể các tôn giáo khác— tin rằng khả năng này có thể phát triển đến một trìnhđộ không những từ bi khởi dậy chẳng cần chút cố gắng,mà còn vô điều kiện, vô phân biệt, và ở một phạm vitoàn cầu. Một tình cảm mật thiết đối với tất cả chúngsanh muôn loài, dĩ nhiên kể cả những kẻ làm hại ta, đượcphát ra, tương tự như tình yêu của người mẹ dành cho đứacon duy nhất.

Nhưngý nghĩa về sự bình hòa đối với tất cả mọi người khôngthể xem như đi đến một điểm kết. Đúng hơn, nó còn đượcxem như một thứ lò xo đẩy bật lên một tình yêu cao cảhơn nữa. Bởi vì khả năng thiện cảm vốn nội tại, vàlý luận cũng là cơ năng nội tại, từ bi chia sẻ cùng cácđặc điểm với chính tâm thức. Vì thế, chúng ta có khảnăng triển khai từ bi rất vững chắc và liên tục. Đó khôngphải là một nguồn có thể dùng cạn — như nước bị cạnkhi ta đun sôi. Và mặc dù từ bi có thể được mô tả nhưmột sinh hoạt, nhưng lại không giống như sinh hoạt vật lý,chẳng hạn như nhảy cao, chỉ rèn luyện được đến mộtmức độ nào đó không thể vượt hơn.

Tráilại, khi tăng tiến sự nhạy cảm trước khổ đau của thanhân qua sự rộng mở tâm, cá nhân đồng thời triển khaiđược từ bi đến mức có thể rất cảm động chỉ vì mộtnỗi khổ vi tế nhất của tha nhân, do ý thức trách nhiệmđối với họ. Điều này khiến người có tâm từ bi sẽtận hiến hầu giúp đỡ kẻ khác thoát khổ lẫn các duyêntạo khổ. Ở Tây tạng, trình độ tối thượng này đượcgọi là nying je chenno, dịch sát nghĩa là "đại từ bi".

Ởđây, không phải tôi đề nghị mỗi cá nhân đều phải đạtđến trạng thái cao của sự phát huy tâm linh mới dẫn đếnmột đời sống thiện lành. Tôi đã mô tả nying je chenno khôngphải vì đó là điều kiện tiên khởi của hành vi luân lý,đúng ra vì tôi tin khi đưa lý luận về từ bi đến trìnhđộ cao nhất có thể biến thành một nguồn cảm hứng mãnhliệt. Nếu chúng ta chỉ cần giữ cảm hứng đó để triểnkhai nying je chenno, hoặc đại từ bi, như một lý tưởng, tựnhiên nó sẽ có một tầm ảnh hưởng quan trọng đến quanđiểm của ta. Căn cứ trên nhận thức đơn giản là, cũngnhư tôi, mọi người khác đều muốn hạnh phúc và tránh đaukhổ, cho nên cần sử dụng nó như một sự nhắc nhở thườngxuyên chống lại ích kỷ và phân biệt. Nó nhắc nhở rằng,nếu ta tử tế và rộng rãi chỉ vì hy vọng sẽ được báođáp, thì chỉ thu hoạch rất ít ỏi. Nó nhắc nhở rằng,các hành có động cơ cầu vọng danh thơm cho mình vẫn còních kỷ, tuy rằng bề ngoài trông như hành vi tử tế. Nó cònnhắc nhở rằng, không có gì đặc biệt trong các hành độngtừ thiện đối với các người thân thuộc. Và nó giúp chúngta nhận thức thiên kiến dành cho gia đình và bạn bè, vốnlà điều không đáng tin cậy hầu thẩm định hành vi luânlý. Nếu chỉ dành hành vi luân lý cho các người ta cảm thấythân thuộc, nguy cơ là ta sẽ bỏ quên bổn phận đối vớinhững người bên ngoài vòng.

Tạisao thế? Một khi các cá nhân đó tiếp tục đáp ứng kỳvọng của ta, thì mọi việc tốt đẹp. Nhưng nếu họ làmhỏng, thì người mà ta xem như bạn thân hôm nay, ngày kia cóthể trở thành kẻ thù tệ hại nhất. Như chúng ta từng thấy,ta có xu hướng phản ứng xấu đối với tất cả ngườitạo đe dọa khiến ta không được thỏa mãn các ham muốnthân yêu nhất, cho dù họ là thân cận của ta. Từ lý do đó,từ bi và tương kính đề ra một căn bản vững chắc hơncho liên hệ con người. Điều này đúng trong tình bạn đời.Nếu tình yêu ta dành cho người nào đặt căn bản trên sựhấp dẫn, cho dù đó là bề ngoài hoặc các đặc điểm giảtạo nào đó, thì cảm tình ta dành cho người đó sẽ tan biếnqua thời gian. Khi họ mất đi phẩm chất ta cảm thấy là quyếnrũ, tình trạng có thể hoàn toàn thay đổi, mặc dù họ vẫncùng là một người. Đó là tại sao liên hệ đặt nền tảngthuần trên sự hấp dẫn vốn bất định. Mặt khác, khi tabắt đầu kiện toàn lòng từ bi, thì bề ngoài hoặc tháiđộ của người đó không ảnh hưởng đến cách cư xử bêntrong của ta.

Lạinữa, cảm tình của ta đối với người khác thường tùythuộc nhiều vào hoàn cảnh của họ. Đa số người ta, khinhìn thấy kẻ tàn tật, đều cảm thông cho họ. Nhưng khithấy người giàu có hơn mình, hoặc học thức hơn, hoặccó địa vị cao, lập tức sẽ cảm thấy ganh tỵ và cạnhtranh cùng họ. Cảm xúc tiêu cực sẽ ngăn chúng ta không nhìnthấy sự giống nhau giữa chúng ta và người khác. Chúng taquên rằng, cũng như ta, dù may dù rủi, dù xa dù gần, họcũng đều mong hạnh phúc và tránh đau khổ.

Nhưthế, mục đích của phấn đấu là để vượt khỏi các cảmxúc thiên lệch đó. Chắc chắn, triển khai được từ bi chânthật cho các người thân yêu vẫn là nơi chốn hiện thậtvà thích đáng để bắt đầu. Ảnh hưởng của hành độngchúng ta trên người thân thường lớn hơn trên kẻ khác, dođó, trách nhiệm của ta đối với họ cũng nặng hơn. Dùvậy, ta cần nhìn nhận rằng, cuối cùng, không có nền tảngnào để thiên vị dành ưu quyền cho họ. Trong ý nghĩa này,chúng ta tất cả đều đứng ở vị trí của một y sĩ trướcmười bệnh nhân cùng mắc phải một chứng bệnh. Họ đềuđáng được trị liệu ngang bằng nhau. Tuy nhiên, điều đượcbiện luận ở đây không phải là trạng thái lạnh nhạt cáchbiệt. Thách đố căn bản khác, khi ta bắt đầu nới rộngtừ bi đến tất cả mọi người, là bảo quản được cùngmột trình độ thân thiết mà ta cảm thấy cho các ngườigần nhất. Nói cách khác, điều đề nghị là ta cần phảiphấn đấu cho sự bình hòa trong khuynh hướng dành cho tấtcả mọi người, ở một mức độ nền móng trên đó ta cóthể gieo hạt giống của nying je chenno , của đại từ vàđại bi.

Nếuchúng ta có thể bắt đầu liên hệ với người khác trêncăn bản bình hòa như thế, từ bi sẽ không còn tùy thuộcvào sự kiện người này là chồng tôi, người kia là vợtôi, thân nhân, bạn bè... Đúng hơn, một cảm giác thân thuộcđối với tất cả mọi người sẽ phát triển trên nhậnthức đơn thuần là, cũng như tôi tất cả đều muốn hạnhphúc và tránh đau khổ. Nói cách khác, chúng ta sẽ khởi sựliên hệ cùng người khác trên nền tảng họ là chúng sanh.Chúng ta có thể nghĩ về điều đó như một lý tưởng, mộtđiều rất khó đạt đến. Nhưng theo tôi, điều đó là nguồncảm hứng vô cùng sâu xa và lợi lạc.

Giờta thử quán xét vai trò của tâm từ bi và lòng tử tế trongđời sống hàng ngày. Có phải lý tưởng phát huy nó đếnmức trở thành vô điều kiện có nghĩa là ta phải bỏ trọnvẹn các lợi ích cá nhân? Không hẳn vậy. Trái lại, đólà cách tốt nhất để phục vụ chúng — đúng ra có thểbảo đó là xây dựng cách trọn vẹn cho tự lợi khôn ngoannhất. Bởi vì nếu xác nhận các phẩm tánh như tình thương,nhẫn nại, bao dung và tha thứ là thành phần của hạnh phúc,thì cũng có thể xác nhận nying je, tức từ bi, vừa là cănnguồn vừa là kết quả của các phẩm tánh đó; như thế,khi ta càng từ bi, thì lại càng cung ứng nhiều cho hạnh phúc.Mọi ý tưởng có liên hệ các tha nhân nếu chỉ thuộc phạmvi đời sống cá nhân, cho dù đó là một phẩm tánh cao thượng,cũng chỉ thành thiển cận. Từ bi nằm trong từng phạm vicủa sinh hoạt, bao gồm cả nơi làm việc.

Ởđây, tôi phải nói đến một nhận thức được nhiều ngườinhìn nhận là, từ bi, nếu không phải là một chướng ngại,thì ít ra cũng là điều không thích hợp cho đời sống nghiệpvụ. Cá nhân tôi nghĩ rằng, chẳng những thích hợp, mà nếuthiếu từ bi, sinh hoạt của chúng ta bị đe dọa hủy hoại.Điều này là vì, khi ta bỏ quên vấn đề ảnh hưởng củahành động đối với an sinh của người khác, ta không thểnào tránh khỏi làm hại đến họ. Luân lý của từ bi giúptạo ra một nền tảng và động cơ cần thiết cho cả giớiluật lẫn vun bồi đức hạnh. Khi ta bắt đầu thật sự quýtrọng giá trị của từ bi, nhãn quan của ta đối với ngườikhác tự động thay đổi. Chỉ riêng điều này có thể làtạo một ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi trong đời sốngcủa ta. Chẳng hạn như, khi cám dỗ của sự lừa đảo ngườikhác khởi dậy, từ bi dành cho họ sẽ ngăn ta không thựchiện ý định. Và khi nhận thức được việc làm của mìnhcó thể đang bị nguy cơ do kẻ khác lợi dụng, từ bi sẽgiúp ta tháo gỡ khỏi khó khăn đó. Thử tưởng tượng trườnghợp một khoa học gia đang nghiên cứu một việc có thể trởthành nguồn đau khổ cho người khác, nhờ từ bi, họ sẽnhận ra và hành động thích đáng, thậm chí có thể bỏ luôncả kế hoạch.

Tôikhông phủ nhận vấn đề thật sự có thể khởi dậy khita tận hiến đời mình cho lý tưởng từ bi. Trong trườnghợp khoa học gia tiếp tục làm việc theo chiều hướng cũ,có thể tạo thành các hậu quả nghiêm trọng cho chính họvà gia đình. Cũng thế, những người làm các dịch vụ chămsóc — y tế, cố vấn, xã hội, vân vân — hoặc những ngườitrông nom tại nhà đôi khi có thể mệt mỏi vì công tác vượtquá sức mình. Sự tiếp xúc thường xuyên cùng đau khổ, đôilúc sẽ tạo nên một cảm xúc như phải chịu đựng, có khiđi đến cảm thấy mất năng lực, và tuyệt vọng. Hoặc trongtrường hợp cá nhân làm hành động tử tế đó chỉ vì côngtác phải làm — chỉ làm theo vận chuyển đòi hỏi. Dĩ nhiêncòn tốt hơn là không có mục tiêu gì.

Nhưngnếu không tự kiểm thảo, việc này có thể dẫn đến sựmất cảm giác đối với đau khổ của người khác. Nếu nókhởi sự, tốt hơn là nên tạm rời bỏ một thời gian, vànỗ lực cẩn trọng hầu đánh thức sự nhạy cảm đó. Cầnnên nhớ rằng tuyệt vọng không bao giờ là một giải pháp.Điều đó, theo một thành ngữ Tây tạng nói, ngay dù sợidây bị đứt làm chín khúc, ta cũng phải nối nó lại mườilần. Bằng cách đó, cho dù đến cuối cùng ta vẫn thất bại,ít nhất sẽ không có cảm xúc hối tiếc. Và khi phối hợpcái nhìn này cùng một sự nhận thức rõ rệt về khả nănglợi tha của mình, ta sẽ có thể bắt đầu vãn hồi hy vọngvà tự tin.

Vàingười có thể phản đối lý tưởng này trên căn bản là,khi đi vào nỗi khổ của tha nhân, ta sẽ mang lại khổ chochính mình. Ở một hạn định nào đó, điều đó đúng. Nhưngtôi đề khởi rằng, không ó một phân biệt thẩm định chủyếu nào giữa kinh nghiệm khổ của chính ta và kinh nghiệmkhổ khi chia sẻ cùng người khác. Trong trường hợp nỗi khổcủa riêng ta, cho là không tự nguyện đi, vẫn có một cảmthức bị áp chế: dường như nó đến từ bên ngoài ta.

Ngượclại, chia sẻ đau khổ cùng người khác có một trình độtự nguyện nào đó, nhưng tự nó cho thấy một thứ nội lực.Vì lý do đó, sự phiền nhiễu nó tạo nên còn ít khiến chota cảm thấy phân liệt hơn là do đau khổ của riêng ta.

Đươngnhiên, cho dù là một lý tưởng, khái niệm về phát huy từbi vô điều kiện rất dễ gây nản lòng. Hầu hết mọi người,kể cả tôi, phải tranh đấu mới có thể đạt đến điểmdễ dàng đặt lợi ích của kẻ khác ngang hàng với lợi íchcủa mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể để cho điều đókhiến ta bỏ cuộc. Và trong khi chắc chắn có nhiều trở lựctrên con đường phát huy được một trái tim thật sự ấmáp, ta lại có một sự an ủi sâu xa khi biết được làm nhưthế ta đang tạo các điều kiện cho hạnh phúc của chínhmình. Như tôi đã nói đến, khi ta càng thật lòng mong muốnlợi tha, thì năng lực và tự tin càng được phát huy, vàta sẽ được kinh nghiệm càng lớn lao về an bình và hạnhphúc. Nếu còn nghi ngờ, thử đặt câu hỏi còn có cách nàokhác chăng. Với bạo lực và tranh chấp? Dĩ nhiên là không.Với tiền tài? Có thể đến một mức nào đó, nhưng khôngxa hơn. Nhưng với tình thương yêu, chia sẻ đau khổ của ngườikhác, nhận thức rõ rệt sự hòa đồng cùng người khác —đặc biệt là các người không may và không được tôn trọngnhân quyền — bằng cách giúp đỡ họ hạnh phúc: đúng vậy.Qua tình thương, qua lòng tốt, qua từ bi, chúng ta thiết lậpsự hiểu biết giữa ta và người. Đó là cách rèn luyệnsự hợp nhất và hài hòa.

Từbi và thương yêu không phải là các xa xỉ phẩm. Đó là nguồnan bình cả bên trong lẫn bên ngoài, nền tảng cho sự tồntục của loài người. Một mặt, chúng thiết lập hành độngbất bạo lực. Mặt khác, chúng là nguồn cội của tất cảcác phẩm chất tâm linh: của tha thứ, bao dung, và mọi phẩmtánh khác. Hơn nữa, đây quả thật là điều mang lại ý nghĩacho mọi sinh hoạt của ta, tạo tính cách xây dựng. Không cógì lạ khi học cao; không có gì lạ khi giàu có. Chỉ có cánhân với một trái tim ấm áp mới có thể làm các điềuthật sự có giá trị.

Đốivới các vị cho rằng Đạt lai Lạt ma thiếu thực tế khibiện luận cho thứ lý tưởng về tình thương vô điều kiện,tôi mời gọi họ hãy thử kinh nghiệm cùng nó. Họ sẽ khámphá ra rằng, khi chúng ta vượt trên sự hạn hẹp gò bó củangã lợi, trái tim ta sẽ ngập tràn một thứ năng lực. Anbình và niềm vui sẽ trở thành bạn hữu thường trực củata. Nó phá vỡ mọi thứ hàng rào và cuối cùng tiêu hủy kháiniệm về ngã lợi vốn dĩ độc lập cùng tha lợi. Nhưng quantrọng nhất, ít ra trên bình diện luân lý, nơi nào có đượctình thương, sự quý trọng, lòng tốt và tâm từ bi dành chođồng loại, nơi đó sẽ tự động có hành vi luân lý. Cáchành động luân lý thiện lành khởi dậy tự nhiên trong khuônkhổ của từ bi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/01/2015(Xem: 27899)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
05/01/2015(Xem: 25025)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
15/12/2014(Xem: 15483)
Tôi rất vui mừng hiện diện với tất cả quý vị chiều hôm nay. Tôi đã được yêu cầu nói về "Tại sao Phật Giáo?" dĩ nhiên đây là câu hỏi đáng quan tâm, một cách đặc biệt ở phương Tây, nơi mà chúng ta đã có những tôn giáo của chúng ta, vậy thì tại sao chúng ta cần Phật Giáo? Tôi nghĩ thật quan trọng để hiểu rằng khi chúng ta nói về Phật Giáo, chúng ta có nhiều phương diện khác nhau đối với Phật Giáo. Đấy là những gì chúng ta có thể gọi là khoa học Phật Giáo, tâm lý học Phật Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo:
27/11/2014(Xem: 12593)
Oprah Winfrey là một phụ nữ 56 tuổi - một ngôi sao truyền hình Mỹ. Có thể nói Oprah Winfrey là một phụ nữ danh tiếng và có nhiều ảnh hưởng nhất trên quần chúng ở Hoa Kỳ. Năm 2006, chính Oprah đã mang về cho Obama hơn một triệu lá phiếu, thắng Hilary Clinton, để được đảng Dân Chủ đề cử làm ứng viên Tổng thống. Có người cho rằng Oprah có quyền lực mạnh bằng hay hơn 100 nghị sĩ, dân biểu Mỹ.
27/11/2014(Xem: 8477)
Chư thân hữu quý mến, Ở đây, chúng ta đang ở vào cuối năm 2010 - một năm khi Đức Đạt Lai Lạt Ma ở đây với chúng ta, Úc Đại Lợi. Nơi nào mà năm tháng đã đi qua Trong bộ phim Mặt Trời Mọc và Lặn, vừa mới trình chiếu ở Úc Đại Lợi và được quay trong sự phối hợp với Bậc Hiền Nhân Từ Bi và Tuệ Trí của Chúng Ta, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về tính tương đối của mọi thứ...
27/11/2014(Xem: 14896)
Các phương đông, nam, tây, bắc, trên, dưới gọi là “vũ”, tức chỉ không gian vô hạn; từ ngàn xưa đến ngày nay gọi là “trụ”, tức chỉ thời gian vô hạn. Trong triết học gọi là thế giới, tức chỉ tất cả vật chất và toàn bộ hình thức tồn tại của nó. “Vũ trụ” của Phật giáo cũng bao hàm tứ duy (đông nam tây bắc) thượng hạ, quá khứ, hiện tại và vị lai, đồng thời dung chứa thế gian hữu tình vô lượng vô số, và khí thế gian rộng lớn mênh mông. Từ xưa đến nay, con người không ngừng thảo luận và nghiên cứu về sự tồn tại bí ẩn của vũ trụ; từ trong thần thoại của thuở hồng hoang đến sự phát hiện lần lượt của hệ thái dương, hệ ngân hà; sự biến chuyển từng ngày của khoa học khiến cho nhân loại bừng sáng và hiểu ra rằng thời gian và không gian (thời không), hữu tình, vật chất đều tự nhiên rộng lớn vô cùng, vượt xa ngoài phạm trù có thể hiểu biết của loài người.
22/11/2014(Xem: 47403)
Có người khách mang đến cho tôi một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực lạc, Ánh sáng và bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên nhiều lắm với tác giả lạ. Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị. Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú XUÂN KÝ, một thời ở Già-lam cùng với chú Sỹ.
19/11/2014(Xem: 14512)
Có một số người học Phật thích tìm kiếm, thu thập những tư tưởng cao siêu, từ đó đem ra lý giải, phân tích rất hay nhưng phần hạ thủ công phu, tu tập cụ thể như thế nào lại không nghe nói tới! Họ đã quên rằng, kiến thức ấy chỉ là âm bản, chỉ là khái niệm, không phải là cái thực. Cái thực ấy phải tự mình chứng nghiệm. Cái mà mình chứng nghiệm mới là cái thực của mình.
19/11/2014(Xem: 17472)
Văn học là một trong những phương thức biểu đạt tình cảm và trí thức của loài người. Một tác phẩm văn học hay, không chỉ tạo ra tiếng vang rộng lớn tại thời điểm và địa phương nào đó, thậm chí nó có khả năng siêu vượt biên giới thời-không, dẫn dắt nhân tâm bước vào cảnh giới chân- thiện- mỹ. Trong Phật giáo có rất nhiều tác phẩm chính là đại diện cho loại hình này; đặc biệt chính bản thân Đức Phật cũng là nhà văn học tài trí mẫn tiệp, trí tuệ siêu quần.
16/11/2014(Xem: 6454)
Trong khuôn khổ Tuần Văn hóa Phật giáo 2012 tại Nghệ An, GS. Cao Huy Thuần từ Cộng hóa Pháp về tham dự và đã có buổi thuyết trình về đề tại "Tại sao Phật giáo ảnh hưởng ở Phương Tây" tại nhà Văn hóa Lao Động tỉnh Nghệ An. Buổi thuyết trình đã thu hút hàng nghìn người tham dự, sau đây là toàn văn bài thuyết trình, BBT xin đăng tải để giới thiệu cùng quý độc giả: