Đạo Lý Cho Thiên Kỷ Mới

12/11/201017:31(Xem: 23582)
Đạo Lý Cho Thiên Kỷ Mới

hoasen2

Đ
O LÝ CHO THIÊN KMI
(Nguyên tác: ETHICS FOR THE NEW MILLENNIUM)

Đ
ẠT LAI LẠT MA
LINH TH
ỤY chuyển ngữ




Đ
Ta

Mất đi quê hương vào tuổi mười sáu và trở thành một người tỵ nạn vào tuổi hai mươi bốn, tôi đã đối diện với rất nhiều khó khăn suốt dòng đời. Khi quán chiếu lại, tôithấy rất nhiều điều tưởng chừng không vượtqua nổi, chẳng những chỉ vì không thể tránh, lại còn không sao có được một giải pháp thuận lợi. Tuy nhiên, trên mặt tâm an bình và sức khỏe vật lý, tôi có thể tự cho rằng mình đảm đang tương đối tốt. Nhờ vậy, tôi có thể ứng phó nghịchcảnh bằng trọn vẹn tiềm năng — tinh thần, vật lý và tâm linh. Tôi đã không thể làm cách khác hơn nữa. Nếu tâm tôi tràn ngập ưu tư và vô vọng, sức khỏe sẽ bị tổn hại. Tôi cũng phải giới chế các hành động của mình.

Nhìnchung quanh, tôi thấy không phải chỉ có chúng tôi, các người tỵ nạn Tây tạng,và thành viên của các cộng đồng lưu lạc khác, mới gặp phải khó khăn. Khắp mọinơi và trong bất cứ xã hội nào, người ta đều chịu đựng đau khổ và nghịch cảnh —ngay cả những người thừa hưởng tự do và phồn vinh vật chất. Thật vậy, dường nhưsự thiếu hạnh phúc mà loài người chúng ta phải chịu đựng đa phần do chính chúngta tác tạo. Do vậy, theo nguyên tắc, điều đó có thể tránh. Nhìn chung, tôi cònthấy, các cá nhân với hành vi hợp luân lý thường hạnh phúc và mãn nguyện hơnnhững người bỏ quên luân lý. Điều này minh xác niềm tin của tôi, nếu chúng tacó thể tái định hướng tư tưởng và cảm xúc của mình, và chỉnh đốn phẩm hạnh,chẳng những có thể đối phó cùng các nỗi khổ dễ dàng hơn, còn ngăn ngừa được sựkhởi dậy của chúng ngay từ đầu.

Tôisẽ cố trình bày trong quyển sách này điều tôi ngụ ý qua chuyên từ "hành viluân lý tích cực." Làm việc đó, tôi nhìn nhận rất khó tổng hợp thành công,hoặc yếu lược thật chính xác về luân lý và đạo đức. Rất hiếm hoi, hoặc hầu nhưkhông thể có, một trường hợp trắng và đen phân minh. Cùng một hành động sẽ cónhiều sắc độ và mức độ giá trị đạo đức khác nhau trong các trạng huống khácnhau. Đồng thời, điều cốt yếu là chúng ta phải đạt một thỏa hiệp chung liên hệđến những gì tạo thành hành vi tích cực và những gì tạo thành hành vi tiêu cực;những gì đúng và những gì sai; những gì thích đáng và những gì không thíchđáng. Trong quá khứ, sự tôn trọng loài người dành cho tôn giáo còn có nghĩa làsự thật hành đạo lý được bảo tồn qua đa số tín đồ theo một đạo này hay đạokhác. Tình thế đó không còn trong hiện tại. Do đó chúng ta phải tìm ra vàiphương cách khác hầu thiết lập các nguyên tắc luân lý cơ bản.

Xinđộc giả đừng giả định rằng, như một Đạt lai Lạt ma, tôi sẽ đề ra một giải phápđặc biệt nào đó. Không có gì trong các trang sau này lại chưa từng được nói đếntrước đây. Thật vậy, tôi cảm thấy những quan ngại và ý tưởng trình bày nơi đâyđã từng được chia sẻ bởi rất nhiều người tư duy và nỗ lực truy tìm giải phápcho các vấn đề và nỗi khổ đau loài người phải trực diện. Khi đáp ứng các đềnghị của một số bằng hữu, và cống hiến quyển sách này cho quần chúng, hy vọngcủa tôi là được lên tiếng cho hàng triệu người, thuộc thành phần đa số thầmlặng, không có cơ hội phát biểu quan điểm của họ ngoài công chúng.

Tuynhiên, xin độc giả ghi nhớ, việc học tập chính thức của tôi vốn hoàn toàn tôngiáo và có tính cách tâm linh. Từ thuở bé, ngành học chủ yếu (và liên tục) củatôi là triết học và tâm lý học Phật giáo. Đặc biệt, tôi được học các tác phẩmcủa chư vị triết gia tôn giáo truyền thống Geluk, truyền thống mà các Đạt laiLạt ma trực thuộc vào. Là người xác tín vào thuyết đa nguyên tôn giáo, tôi cònhọc cả những tác phẩm chính của các truyền thống Phật giáo khác. Nhưng tôitương đối ít được trình bày về tư tưởng thế tục và thời đại. Tuy vậy, đây khôngphải là một quyển sách tôn giáo. Lại càng không phải quyển sách về Phật giáo.Mục đích của tôi là kêu gọi một khuynh hướng về luân lý trên nền tảng toàn cầuhơn là đề ra các nguyên tắc tôn giáo.

Vớilý do đó, tạo một tác phẩm cho đại chúng là một việc thiếu thử thách, và phảilà công trình làm việc nhóm. Một khó khăn đặc thù phát sinh từ sự kiện ngữ học,là rất khó chuyển dịch thành ngôn ngữ hiện đại một số chuyên từ Tây tạng chủyếu phải dùng.

Quyểnsách này không muốn được viết như một luận án triết học, do đó tôi cố gắng giảithích những điều trên bằng cách nào hầu độc giả không chuyên môn hiểu được; vàthật sáng sủa dễ chuyển dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhưng khi làm thế, cố gắngthông đạt không tối nghĩa cùng các độc giả với ngôn ngữ và văn hóa khả dĩ khácbiệt cùng tôi, có thể khiến một vài sắc thái ý nghĩa trong tiếng Tây tạng bịmất, một số không định ý lại cứ thêm vào. Tôi tin cậy vào sự biên tập thậntrọng sẽ giảm thiểu được điều đó. Khi một lệch lạc như thế được phát hiện, tôihy vọng sẽ sửa chữa trong đợt phát hành kế tiếp. Đồng thời, tôi xin cảm ơn Dr.Thupten Jinpa, qua mọi trợ lực của ông trong lãnh vực này, kể cả chuyển dịchsang Anh ngữ, cùng rất nhiều đề nghị. Tôi cũng xin cảm ơn Mr. AR Norman trongcông trình biên tập. Tất cả thật quý báu.

Cuốicùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả quý vị khác đã giúp đỡ đưa công trìnhnày đến kết quả.

—Dharamsala, tháng Hai1999

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/2013(Xem: 25245)
Xã hội ngày nay, lòng người ác độc; cho nên bị thiên tai, nhân họa thường xuyên giáng xuống. Khi tai họa ập đến không ai lường trước được, không thể trốn tránh và đề phòng không kịp.
16/12/2013(Xem: 24648)
Dân tộc ta thừa hưởng nhiều tư tưởng triết lý tôn giáo cũng như chính trị và văn học của nhân loại; khởi đầu là tư tưởng Nho gia, Đạo giáo rồi đến Phật học. Suốt thời kỳ dài, "Tam giáo đồng nguyên" đã hòa hợp khá nhuần nhuyễn để dân tộc ta có một nếp sống hài hòa từ văn hóa đến kiến trúc, nghi lễ, chính trị, giáo dục, giao tế... Vì thế, những di tích còn để lại ngày nay ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, mỗi làng đều có Đình, Miếu và chùa trong một quần thể mỗi xã, huyện.
16/12/2013(Xem: 18807)
Giới là sự khác biệt căn bản giữa người nam và người nữ, liên quan đến giới tính, đến vai trò và vị trí xã hội của họ. Vấn đề bình đẳng giới được nêu lên nhằm giải quyết sự thiệt thòi của phụ nữ vì bị đối xử phân biệt
14/12/2013(Xem: 47977)
Năm 2006, khi tôi viết thư xin phép Thiền sư Bhante H. Gunaratana để dịch quyển tự truyện cuộc đời ngài, Hành Trình Đến Chánh Niệm (Journey To Mindfulness), Thiền sư không những đã từ bi hoan hỷ cho phép, mà còn giới thiệu về quyển sách mới của ngài, Eight Mindful Steps To Happiness. Do duyên lành đó hôm nay bản dịch của quyển sách trên được đến tay độc giả với tựa Bát Chánh Đạo: Con Đường Đến Hạnh Phúc.
14/12/2013(Xem: 15116)
Nói đến tu hành là nói đến tội phước, nếu không rõ tội phước tức là không rõ sự tu hành. Nếu người tu mà cứ lao mình trong tội lỗi, ấy là người tạo tội cho không phải là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từ tội phước mà sanh ra. Vì thế muốn thấu hiểu sự tu hành chúng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là những hành động thiết thực trong cuộc sống nầy, không phải là chuyện siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hành phải thấu đáo, phải phân rành vấn đề tội phước.
11/12/2013(Xem: 37818)
Nói về kiếp người Đức Lão Tử đã thốt lên rằng: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân, Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?” Dịch : “ Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân, Nếu ta không thân thì đâu có khổ gì ?”
11/12/2013(Xem: 37722)
Đi tu không có nghĩa là phải vào chùa, cạo bỏ râu tóc mà phải được hiểu rộng rãi hơn nhiều! Đi tu là một quá trình khám phá tâm linh. Chúng ta học ứng dụng những lời Phật dạy trong đời sống hàng ngày của mình. Tu là chuyển hóa bản thân, từ vô minh đến trí tuệ, là tìm kiếm, khám phá con đường đưa đến hạnh phúc và an lạc.
10/12/2013(Xem: 28479)
Cánh cửa của thế kỷ 20 sắp khép lại, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng thế giới đã trở nên nhỏ hơn, loài người trên hành tinh đã trở thành một cộng đồng lớn, các liên minh về chính trị và quân sự đã tạo ra những khối đa quốc gia, làn sóng của thương mại và công nghiệp thế giới đã cho ra nền kinh tế toàn cầu, những phương tiện thông tin của thế giới đã loại bỏ những chướng ngại về ngôn ngữ và chủng tộc.
10/12/2013(Xem: 32448)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
08/12/2013(Xem: 45067)
Khi thực tập thiền Lạy, ta nhìn sâu vào thân ta để thấy rằng thân này không đích thực là ta, không phải là vật sở hữu của ta. Trong thân này không có cái gì gọi là cái ta riêng biệt để bám víu. Tuy nhiên, thân thể ta là một hợp thể rất mầu nhiệm, nó chứa đựng cả tinh hà vũ trụ bao la. Ta thấy được tất cả các thế hệ tổ tiên, con cháu của ta đều có mặt trong thân ta. Ta cảm nhận sự có mặt của họ trong từng tế bào của cơ thể. Họ luôn có mặt trong ta và chung quanh ta. Họ cũng như các yếu tố khác đã kết hợp lại để làm nên sự sống của ta. Ta có thể tiếp xúc với những yếu tố như đất, nước, lửa và không khí - bốn đại trong ta và ngoài ta. Ta thấy ta như một con sóng trên mặt đại dương. Con sóng này được hình thành bởi các con sóng khác.