Quyển II

27/07/202515:37(Xem: 2745)
Quyển II

 

QUYỂN II

 

 

 

 

 

 

 

 

SỰ QUÁN THẤY CỦA ĐỨC PHẬT

 

VỀ

 

SỰ VẬN HÀNH CỦA THẾ GIỚI

 

 

 

 

HOANG PHONG

 

BIÊN SOẠN và PHIÊN DỊCH

 

 


 

 

 

 

 

 

Lời Đức Phật

 

«Imasmim sati idam hōti,

imassa uppādā idam uppajjāti;

imasmim asati idam na hōti,

imassa nirōdhā idam nirujjhatī ti»

 

«Khi cái này có, cái kia có,

Khi cái này phát sinh, cái kia phát sinh;

Khi cái này không có, cái kia không có,

Khi cái này không phát sinh, cái kia không phát sinh»

 

(Cūḷasakuludāyi Sutta MN - 79)

 


 

 

 

 

 

 

 

Lời mở đầu

 

 

 

 

Nhìn vào thế giới thì chúng ta không khỏi trông thấy thế giới vô cùng náo nhiệt và phức tạp. Các nhà thiên văn trông thấy vô số thiên hà và vũ trụ trong không gian; các nhà vật lý học trông thấy các đặc tính của vật chất; các nhà sinh học trông thấy sự sống của cỏ cây và sinh vật; các chính trị gia trông thấy các phương cách quản lý xã hội và lèo lái con người; các chiến binh trông thấy bom đạn và chiến tranh; các sử gia trông thấy quá khứ của nhân loại, các triết gia trông thấy số phận của con người; các bác sĩ trông thấy bệnh tật và cái chết, các nhà tâm lý học trông thấy sự suy nghĩ của kẻ khác; các văn gia thi sĩ trông thấy các xúc cảm bên trong chính mình; các vị sáng lập tôn giáo trông thấy các chuyện trên trời và cả bên kia thế giới, các người tu hành trông thấy các sự lo âu và sợ hãi của các tín đồ cùng các phương pháp trấn an họ…; các bà nội trợ trông thấy các việc chợ búa, bếp núc, chi tiêu, bổn phận chăm sóc con cái và cả hạnh phúc gia đình, v.v. Vậy thế giới, qua các hình thức sinh hoạt náo nhiệt và đa dạng đó thật sự là gì?

 

Dưới một góc nhìn khác, cụ thể và trực tiếp hơn, xuyên qua sự cảm nhận của các cơ quan giác cảm, thì mỗi người trong chúng ta trông thấy thế giới hiện ra với mình như thế nào? Chúng ta trông thấy bóng dáng, màu sắc, các sự chuyển động hiện ra chung quanh mình qua trung gian của cơ quan thị giác; chúng ta nghe thấy âm thanh, tiếng nói, tiếng khóc, tiếng cười qua trung gian của cơ quan thính giác; chúng ta ngửi thấy mùi thơm, mùi thối qua trung gian của cơ quan khứu giác; chúng ta nếm thấy vị ngọt, vị cay, vị đắng qua trung gian của cơ quan vị giác; chúng ta nhận thấy các sự cọ sát và đụng chạm thích thú hay đau đớn trên da thịt qua cơ quan xúc giác; chúng ta ý thức và diễn đạt các cảm nhận của ngũ giác qua trung gian của cơ quan tâm thần là não bộ. Căn cứ vào các sự cảm nhận ấy mỗi người trong chúng ta hình dung ra một thế giới riêng cho mình, một thế giới mang tính cách cá nhân, tùy thuộc vào khả năng và sự bén nhạy của ngũ giác và tâm thần mình. Các thế giới mang tính cách cá nhân đó – tạo ra bởi ngũ giác và tâm thần của mỗi cá thể – hoàn toàn khác biệt nhau. Đó là một trong các khía cạnh căn bản nhất phản ảnh sự khác biệt va đa dạng giữa con người với nhau.

 

Nếu nhìn vào thế giới qua một góc nhìn khác nữa, dựa vào các sự suy nghĩ, xúc cảm, các sự liên tưởng và nhận định của mình, thì chúng ta sẽ trông thấy thêm một thế giới khác nữa, đó là thế giới hiện ra trong tâm thần. Thế giới tạo tác bên trong tâm thần đó có thể là một thế giới vui tươi, đầy hứa hẹn, nhưng cũng có thể là một thế giới đau thương, đen tối và hung bạo. Tuy nhiên thế giới đó có thể là một thế giới nhân từ, yêu thương và chia sẻ, hoặc cũng có thể là một thế giới hận thù, ích kỷ, tham lam và biển lận. Thế giới tạo tác trong tâm thần đó hiện ra tùy thuộc vào tánh tình, tuổi tác, chủng tộc, giáo dục, tín ngưỡng, hoàn cảnh, kinh nghiệm sống và cả quá khứ của mỗi cá thể.

 

Tóm lại là có ba thế giới: thế giới vật lý bên ngoài, thế giới cảm nhận bởi các giác quan của mình và thế giới do mình hình dung ra trong tâm thức mình. Thế nhưng chúng ta thì lại có cảm giác thế giới chỉ là một, các sự trông thấy và cảm nhận xuyên qua lục giác của mình đúng thật là như thế, các sự nhận thức và suy nghĩ của mình phù hợp với hiện thực đang chuyển động và biến dạng chung quanh mình. Đấy là yếu tố tiên khởi nhất khiến đưa đến mọi sự rắc rối trong sinh hoạt của con người và xã hội nói chung.

 

Thật vậy, những gì mà mỗi người trong chúng ta trông thấy, cảm nhận hay nhận thức được hoàn toàn khác biệt nhau, chẳng những không phản ảnh được hiện thực đúng với nó mà còn hoàn toàn ‘bất hợp lý’. Không có hai sự trông thấy nào, cảm nhận nào hay nhận thức nào về hiện thực hoàn toàn giống như nhau. Điều đó đôi khi khiến chúng ta cảm thấy bực tức hoặc hoang mang. Phật giáo gọi sự bực tức và hoang mang ấy là sự ‘thiếu hiểu biết’ (avijjā / ignorance / u mê), một sự lừa phỉnh (moha / delusion / ảo giác), nói một cách khác là xem những gì ‘không thật’ là ‘thật’. Chủ đích của Phật giáo là xóa bỏ tình trạng lầm lẫn đó hầu đánh thức con người trước hiện thực. Sự xóa bỏ ảo giác và tình trạng bực tức và hoang mang đó trong tâm thần mình gọi là sự ‘thức tỉnh’. Sự thức tỉnh đó cũng tương tự như giật mình thức giấc sau một cơn ác mộng, giúp mình nhận thấy được môi trường chung quanh mình xuyên qua ngũ giác của mình. Sự thức tỉnh đó, sự xóa bỏ ảo giác đó, còn được gọi bằng các thuật ngữ khác là sự ‘giác ngộ’, sự  ‘tỉnh ngộ’ hay ‘trí tuệ’, nói chung các chữ này có nghĩa là một sự ‘hiểu biết đúng đắn và chính xác’ về hiện thực, tiếng Pali là bodhi, vijja, ñāṇa, paññā… Vậy sự hiểu biết đúng đắn và chính xác đó là về cái gì? Đó là bản chất của thế giới và sự vận hành của thế giới.

 

Nếu quyển I nêu lên một vài ý niệm về bản chất của thế giới qua các sắc thái phức tạp của nó, chẳng hạn như vài khía cạnh đa dạng được nêu lên trong lời mở đầu trên đây, thì quyển II này sẽ nêu lên sự vận hành của thế giới. Sự vận hành đó xoay quanh một nguyên lý vô cùng chặt chẽ, chi phối toàn bộ sự chuyển động của thế giới và cả vũ trụ, kể cả những gì bên trong tâm thức con người. Nguyên lý đó tiếng Pali gọi là Paṭiccasamuppāda, tiếng Phạn là Pratītyasamutpāda, tạm dịch sang tiếng Việt là Nguyên lý tương liên tương tác và tương tạo giữa mọi hiện tượng, tuy dài dòng nhưng cách gọi này nói lên được đầy đủ ý nghĩa hàm chứa trong thuật ngữ bằng tiếng Pali. Trong các ngôn ngữ Tây phương có một từ tương đối gần với ý nghĩa của thuật ngữ này, đó là chữ Interdependence, thế nhưng chữ này thì lại chỉ có nghĩa là ‘lệ thuộc lẫn nhau’, không nói lên được sự hình thành và chuyển động của mọi hiện tượng trong thế giới.  Các học giả Phật giáo Tây phương ngày nay đề nghị nên gọi nguyên lý này: Dependent origination, Dependent arising, Conditioned co-production, Conditional co-production, Interdependent co-arising, v.v., nói chung thì các chữ này có nghĩa là ‘Sự tương tạo do nguyên nhân và điều kiện mà có’. Kinh sách Hán ngữ gọi là Nhân duyên sinh (因縁生) hay Duyên khởi pháp (緣起法). Kinh sách tiếng Việt dựa vào thuật ngữ tiếng Hán này để gọi nguyên lý tương liên là Lý duyên khởi, chữ duyên trong trường hợp này không có nghĩa là duyên dáng mà là một sự gặp gỡ, một sự kết hợp hay trùng hợp, ngay cả chữ duyên trong tiếng Hán và cả tiếng Việt cũng là một từ lỗi thời, một từ đã xưa, không còn thông dụng, chẳng hạn như trường hợp của chữ ‘duyên nợ’. Sử dụng từ này để nói lên một nguyên lý vô cùng sâu sắc và bao quát, một khám phá vô song của Đức Phật, là một điều đáng tiếc.

 

Trở lại với chữ Paṭiccasamuppāda trong tiếng Pali thì chữ này là một từ ghép (paṭicca+sam+uppāda), chữ paṭicca có nghĩa là lệ thuộc vào một cái gì đó, tùy thuộc vào một sự kiện nào đó (dependent on),  chữ sam có nghĩa là phù hợp với nó (well), chữ uppada có nghĩa là hiển hiện hay phát sinh (arising). Nói chung, một hiện tượng không thể nào tự nó hiện hữu một cách độc lập được, mà phải liên kết với các hiện tượng khác với tư cách là các điều kiện cần thiết. Qua góc nhìn đó thì tất cả các hiện tượng trong thế giới đều liên kết với nhau, xa hay gần, chặt chẽ hay hời hợt, không có bất cứ một hiện tượng nào có thể tách ra khỏi các hiện tượng khác. Nếu một trong số các hiện tượng trong thể dạng tương kết đó biến đổi thì nó sẽ khiến các hiện tượng khác liên kết với nó biến đổi theo. Sự liên kết và biến đổi đó biến thế giới thành một sự chuyển động liên tục. Sự hiện hữu của con người cũng vậy, cũng gia nhập vào sự chuyển động chung đó của thế giới và cả vũ trụ. Sự hiện hữu của một cá thể liên kết với vô số các hiện tượng khác với tư cách là các điều kiện cần thiết là như vậy. Sự chuyển động thường xuyên đó của các hiện tượng lại tiếp tục thay nhau tạo ra các nguyên nhân tất yếu khác, biến sự hiện hữu trong hiện tại của cá thể ấy trở thành môt sự hiện hữu khác trong tương lai, liên hệ với sự hiện hữu trước đó của chính nó trong quá khứ.

 

Sở dĩ dài dòng là để nói lên tầm quan trọng của nguyên lý này trong Giáo lý Phật giáo. Thật vậy, có thể nói rằng nguyên lý tương liên tương tác và tương tạo giữa mọi hiện tượng nói lên sự vận hành của vũ trụ là khám phá to lớn nhất và chủ yếu nhất của Đức Phật. Nguyên lý này không những làm nền tảng cho toàn bộ Giáo lý của Ngài, mà còn mang lại một sự hiểu biết căn bản và bao quát về thế giới và sự vận hành của thế giới, thuộc các lãnh vực triết học, khoa học, tâm lý học, siêu hình học, nói chung là sự hiểu biết. Nguyên lý đó không những tác động đến thế giới vật lý bên ngoài mà cả thế giới nội tâm bên trong tâm thức con người. Các khoa học gia và các triết gia ngày nay đều khâm phục trước khám phá đó của Đức Phật, một sự khám phá vô cùng độc đáo, chưa từng có ai biết đến hay nói đến. Toàn bộ Quyển II này sẽ xoay quanh chủ đề trên đây, và sẽ gồm có hai phần: phần thứ nhất là phần trích dẫn một số bài thuyết giảng của Đức Phật về nguyên lý tương liên, phần thứ hai là phần chuyển ngữ một số bài giảng và sách của các vị đại sư và học giả hiện đại nêu lên nguyên lý này.

 

Ngoài ra trong quyển II cũng có một vài thay đổi nhỏ về kỹ thuật. Dù các bản dịch tiếng Việt được căn cứ và đối chiếu giữa các bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp, thế nhưng dịch giả của các bản dịch này sẽ không nêu lên trong từng trường hợp để tránh dài dòng và lặp đi lặp lại. Với chủ đích này các bản dịch trong Đại tạng kinh tiếng Việt và tiếng Hán cũng sẽ không được trích dẫn, tuy nhiên trong một vài trường hợp cách tìm các bài giảng này trong Đại Tạng Kinh tiếng Việt sẽ được chỉ dẫn hầu các độc giả quen thuộc với các thuật ngữ tiếng Hán có thể tham khảo thêm nếu cần.

 

                                                                           Bures-Sur-Yvette, 07.07.25

                                                                     Hoang Phong

 

 


 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2013(Xem: 9447)
Nhiều người cho rằng đức tin và trí tuệ trong thiền quán (vipassanà) đối nghịch nhau, mâu thuẫn và không thể phối hợp. Không phải vậy! chúng thân hữu và là hai nội lực quan trọng. Trong thông tin vừa rồi, tôi đã viết về những điểm đặc thù và khác biệt giữa các hành giả châu Aù và phương Tây.
29/03/2013(Xem: 7784)
Từ khai thiên lập địa cho đến ngày nay, khi trí thức con người đã triễn khai, nhân đứng trước vũ trụ rộng lớn, nào trăng sáng, núi cao, biẻn rộng ,sông dài ,mây bay ,gió cuốn ,hoa nở ,chim ca ...
21/03/2013(Xem: 8322)
Trước khi đề cập tới ba đại tai họa,chúng ta nên biết rằng có những sự kiện xảy ra rất lâu dài, có thể nói là rất lâu dài hằng nhiều tỷ năm, đó là: - Từ khi Thái-Dương hệ (hệ thống mặt trời) được thành lập rồi, trong thời gian Thái-Dương hệ tồn tại cho tới khi bị tiêu diệt, thời gian ấy rất lâu dài. (Một nhà khoa học nói: “Thái-Dương hệ của chúng ta có đời sống mười tỷ năm, và hiện tại nó đã sống được một nửa rồi”.
28/02/2013(Xem: 8128)
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài trả lời phỏng vấn của Paul F. Knitter, Giáo sư thần học về các Tôn giáo Thế giới và Văn hóa tại Chủng viện Union ở Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách “Không Học Phật, Tôi Đã Không Thể Là Một Con Chiên- Without Buddha I Could Not Be A Christian”.
28/02/2013(Xem: 6244)
Nói về nguồn gốc loài Người, một vấn đề liên quan tới nguồn gốc của chính Tổ-tiên xa xưa lâu đời của chúng ta; nó hết sức khó hiểu cho con người, đã có biết bao người suy nghĩ, nghiên cứu và lý luận để tìm câu trả lời. Ngày nay chúng ta đã có những thuyết trả lời khác nhau như sau:
23/02/2013(Xem: 6795)
Chúng ta cần ghi nhận một điểm thú vị là khi kiến thức khoa học về con người và vũ trụ càng gia tăng thì càng có nhiều bằng chứng được đưa ra để chứng minh giáo lý của Đức Phật là đúng. Phật giáo là con đường giải thoát do Đức Phật khám phá ra. Giáo lý đạo Phật được thể hiện qua Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Giải thoát bao hàm sự chấm dứt hoàn toàn vòng luân hồi sinh tử. Khoa học là việc nghiên cứu một cách khách quan những qui luật của tự nhiên để đưa ra những nhận định tổng quát và lời giải thích cho các hiện tượng đã được quan sát. Như nhà sinh lý học người Pháp Loeb đã nói :” Mục đích tối hậu của khoa học là để tiên đoán”.
21/01/2013(Xem: 7894)
Sự nhận thức quan trọng này gợi ý cho chúng ta rằng nếu có thể dạy cho trẻ em thực hành kỷ luật khi còn nhỏ, thì sẽ đem lại lợi ích cho bản thân các em khi trưởng thành và cho xã hội.
21/01/2013(Xem: 7459)
Tiến sĩ Thupten Jinpa chuyển vai trò thông dịch sang thuyết trình. Ông bắt đầu với lý thuyết Phật giáo thời kỳ sơ khởi về nguyên tử và đề cập đến các xu hướng giản hóa luận trong thời kỳ này. Ông cũng chỉ ra rằng không có bất kỳ quan điểm giản hóa luận nào của các nhà tư tưởng Phật giáo đã quy giản tâm thức về vật chất thuần túy. Nhà hiền triết Aryadeva, đệ tử của đạo sư Long Thọ, đã viết các tranh biện với các luận thuyết thời kỳ sơ khởi là ở trong khía cạnh các quan điểm về tính rời rạc và về lý nhân quả. Trong khuôn khổ của Hai Chân lý thì tất cả các trường phái tư tưởng Phật giáo đều đồng quan điểm về chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét rằng nếu Cơ học Lượng tử được luận giải trong bối cảnh này, thì sẽ dễ dàng nắm bắt hơn.
20/01/2013(Xem: 8164)
Hội đàm Tâm thức và Đời sống (Mind and Life) lần thứ 25 về chủ đề “Tâm thức, Bộ não và Vật chất- các đàm luận giữa tư tưởng Phật giáo và Khoa học” diễn ra tại tự viện Drepung ở Mundgod, karnataka, Ấn Độ từ ngày 17 đến 22
31/12/2012(Xem: 9348)
Phật giáo hiện hữu trên đất nước Việt Nam, hơn 2000 năm đồng hành cùng dân tộc. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của đất nước Phật giáo luôn làm tròn sứ mệnh của một tôn giáo gắn liền với nền văn hoá nước nhà. Chiến tranh đi qua, để lại bao đau thương mất mát, cảnh vật hoang tàn, đời sống nhân dân nghèo đói cơ hàn. Đến thời độc lập, ngoại xâm không cò n nữa, đất nước từng bước chuyển mình đi lên, Phật giáo cũng nhịp nhàn thay màu đổi sắc vươn lên, GHPGVN được ra đời vào ngày 07/11/1981 đến nay gần 22 năm với VI nhiệm kỳ hoạt động của giáo hội.