Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tìm lại những điểm chung và chính yếu trong Thiền Tịnh Song Hành qua bài pháp thoại của TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng tại Thiền Lâm Pháp Bảo trong Khoá tu Tịnh Nghiệp 10 ngày (4-13/7/2022).

13/07/202204:20(Xem: 3605)
Tìm lại những điểm chung và chính yếu trong Thiền Tịnh Song Hành qua bài pháp thoại của TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng tại Thiền Lâm Pháp Bảo trong Khoá tu Tịnh Nghiệp 10 ngày (4-13/7/2022).

Tìm lại những điểm chung và chính yếu trong Thiền Tịnh Song Hành qua bài pháp thoại của TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng tại Thiền Lâm Pháp Bảo trong Khoá tu Tịnh Nghiệp 7 ngày (7-13/7/2022).

Bài của Cư Sĩ Huệ Hương
Do Phật tử Diệu Danh diễn đọc

 






Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô A Di Đà Phật.


Kính bạch HT Phương trượng Thiền Lâm Pháp Bảo Thích Bảo Lạc
Kính bạch TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng
Kính bạch TT Trụ trì Thiền lâm Thích Phổ Huân
Kính bạch Sư Cô quyền Trụ trì Pháp Bảo Thích Nữ Giác Anh
Kính thưa quý đạo hữu trong Khoá tu Tịnh Nghiệp tại Thiền Lâm Pháp Bảo.

Đáng lý ra bài viết này xin kính dành cho quý đạo hữu tu học, nhưng con trộm nghĩ càng có nhiều người diễn đạt lại những điều đã được nghe và những gì mà người nghe đã thọ nhận sẽ vừa có ích các bạn phương xa không kịp theo dõi, lại vừa tạo niềm phấn khởi cho Giảng Sư khi biết rằng những điều mình truyền trao đã được tiếp nhận và càng có nhiều bài cảm tưởng của thính chúng càng giúp cho Giảng Sư hiểu rõ căn cơ Phật tử và sẽ có những bài pháp thoại tuyệt vời khác thích hợp hơn. Chính vì thế con kính mạn phép ghi tóm tắt lại những điều chính yếu khi ngồi chú tâm nghe trọn bài giảng dù rằng con có việc làm đột xuất sau 4:00 pm mới trở về nhà.

Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .

TT Giảng Sư đã giải thích hai chữ Thiền Lâm để bắt đầu cho đề tài THIỀN TỊNH SONG HÀNH của bài pháp thoại.


Thật ra Chùa, Tự Viện , Thiền Lâm, Rừng thiền, đều cũng một ý nghĩa vào cửa thiền nơi mà thiền môn quy củ phải được tôn trọng.


Hơn thế nữa, TT Giảng Sư nhấn mạnh rằng pháp môn căn bản của đạo Phật vẫn lấy Thiền làm chính từ ngàn năm về trước chỉ là chúng sinh đa bịnh thì Phật Pháp đa môn, sẽ dùng phương tiện để tuỳ duyên chuyển hoá.


Giảng Sư cũng nhắc lại 300 năm trở lại đây, Thiền đã trở nên xa lạ vì pháp môn Tịnh độ được phổ biến rộng rãi đến quần chúng hơn qua việc đọc tụng kinh điển và niệm Phật trong nhiều thời khoá như Kinh Lăng Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh A Di Đà với ngôn ngữ địa phương khiến cho các Phật tử Tây Phương không thích hợp và chính nhờ Phật Tử Tây Phương mà Thiền Tông đã hồi sinh dù rằng họ đã nghiên cứu khác biệt giữa thiền chỉ Samartha và thiền quán Vipassana hay thiền tông (Dhуana).


Tuy nhiên để dẫn dắt ý nghĩa pháp môn Thiền Tịnh song hành, TT Giảng Sư đã dùng Tứ liệu giản của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (Tổ thứ ba của Tông Pháp Nhãn từ Lục Tổ Huệ Năng triển khai và là Tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông) có nghĩa là Ngài Thiền sư Vĩnh Minh chủ trương dung hợp giữa pháp tu Thiền Tông và Tịnh độ tông, pháp tu này còn gọi gọi là Thiền-Tịnh song hành.
 

Kính xin ghi lại như sau:

 
Có Thiền không Tịnh độ
Mười người, chín lạc lộ.
Ấm cảnh khi hiện ra
Chớp mắt đi theo nó.

Không Thiền có Tịnh độ
Muôn tu muôn thoát khổ.
Vãng sanh thấy Di Đà
Lo gì chẳng khai ngộ?


Có Thiền có Tịnh độ
Như thêm sừng mãnh hổ.
Hiện đời làm thầy người
Về sau thành Phật, Tổ.

Không Thiền không Tịnh độ
Giường sắt, cột đồng lửa!
Muôn kiếp lại ngàn đời
Chẳng có nơi nương tựa.

Ngược dòng thời gian, TT Giảng Sư đã kể về một chút hành trạng của Ngài và vì sao Lễ vía Đức Phật A Di Đà là 17 tháng 11 âm lịch hàng năm, kính ghi lại như sau

…... Sau khi đã đạt được ý chỉ đốn ngộ nơi Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều sau này sư tiếp tục thực hành thêm pháp môn Niệm Phật đến khi viên tịch. Vì lý do như sau “ Trong lúc thiền quán Sư thấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó Sư được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn chuyên chủ về Thiền hoặc Tịnh mà chưa quyết định, ngài đến thiền viện của Trí Giả đại sư, làm hai lá thăm: một lá đề “Nhất tâm Thiền định”, còn lá kia là: “Trang nghiêm Tịnh độ” . Kế lại chí tâm đảnh lễ Tam Bảo sám hối, cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn bảy lần đều nhằm lá Trang Nghiêm Tịnh Độ. Từ đây ngài nhất ý tu về Tịnh độ mà thôi và đã trở thành vị Tổ thứ sáu .

Về ngày vía của Phật A-Di-Đà chính là ngày sinh nhật của đại sư Vĩnh Minh đã được TT giảng sư kể lại câu chuyện :

Ngô-Việt-Vương nhân khi đến Chùa Lễ Phật, có hỏi ngài Vĩnh Minh Diên Thọ: “Bạch tôn đức! Thời nay có bậc Chân Tăng nào khác chăng?” Đại sư đáp: “Có Hòa thượng Hành Tu, Đôi tai dài, chính là Phật Định Quang ứng thân đấy!”. – Vương tìm đến ngài Hành Tu cung kính đảnh lễ, tôn xưng là Định Quang Như-Lai ra đời. Ngài Hành Tu liền bảo "Vĩnh Minh Đại Sư thật khéo nhiều lời, ông ta cũng chính là A Di Đà Như Lai hóa thân đó”. Nói xong, ngồi yên mà thị tịch. Ngô-Việt-Vương vội vã trở về Chùa Vĩnh-Minh định gạn hỏi hết, thì Đại sư cũng đã viên tịch.

thien lam phap bao 1thien lam phap bao 2thien lam phap bao 3



thien lam phap bao 4thien lam phap bao 5thien lam phap bao 6

Từ đây Giảng Sư bắt đầu nói về thế nào là Thiền, khi có người hỏi Ngài “khi ngồi thiền Ngài nghĩ gì?” Giảng Sư đã nói rõ “ No thinking -Resting your thinking “ vì Thiền là tĩnh lặng, chấm dứt mọi suy nghĩ.

Thiền tông đúng nghĩa là Samatha = Thiền Chỉ = dừng lại ( trú tâm trên một đề mục, hơi thở là 1 trong 42 đề mục,  để tâm không tán loạn.

Giảng Sư cũng nhắc lại 5 cách Thiền để đối trị với 5 triền cái (Tham dục - Sân - Trạo cử- Hôn trầm, Thụy miên - Hoài nghi) đó là :

1- TẦM: tìm một đề mục để trú tâm vào đề mục đó để đối trị hôn trầm, thuỵ miên.
2-TỨ: rà soát, xem xét như con bướm vờn hoa tìm vị ngọt, để đối trị cái NGHI
3-HỶ: vui trong tâm để đối trị Sân
4-LẠC: cái vui khi tâm thật rỗng lặng để đối trị Trạo cử.
5- NHẤT TÂM: để đối trị với tham dục


Con rất tâm đắc khi Giảng Sư đã được ra những thí dụ về nước để giải thích cho tâm hoài nghi là nước bị bùn làm cho vẫn đục, nước bị rong rêu là do tâm trạo cử v.v….

Và cũng thật vui khi Ngài đã từ bi nói ra … đích đến của những thiền giả một khi bỏ thân ngũ ấm này mà nhiều Phật tử thường thắc mắc. Theo đó:

-nếu người đã đắc Sơ Thiền không còn tham dục và ác pháp (đạt được LY SANH HỶ) sẽ được về đến 3 cõi thấp nhất của Cõi Sắc Giới : Phạm chúng, phạm thụ, Đại Phạm .

-Nếu người đã đắc được Nhị thiền bỏ tầm, bỏ tứ đạt được Định hỷ lạc, khi thác sanh sẽ được về cõi Thiều Quang, Vô lượng Quang, Quang âm

-nếu người đắc Tam thiền ( ly hỷ, trú xả thân tâm thọ lạc) sẽ thác sinh vào những cõi trời sắc giới như Tứ đại thiên vương
-nếu người đạt Tứ thiền đã xả lạc khổ , diệt hỷ ưu khi thác sanh vào 6 tầng trời Quảng hỏa, Vô nhiệt …

Vượt qua tứ thiền là không vô biên xứ thiền, thức vô biên xứ , vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ,

Nên nhớ hành giả tu thiền chỉ có thể luyện thần thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông và túc mạng thông nghĩa là chỉ có ngũ thông mà thôi vì một khi chế tâm nhất xứ, vô sự bất biệt thì năng lượng sẽ tụ điểm rất cao như solar mà chúng ta đang áp dụng để phát điện, hơn thế nữa một khi tâm mình tập trung thì thần lực bất khả tư nghì.
Nhưng đây chỉ là Thiền đã có từ trước tại Ấn Độ và Bà La Môn giáo, ngoại đạo

Đạo Phật của Đức Thế Tôn với Thiền quán ( Vipassana) mới chứng đắc được Lậu tận thông,

Cũng cần nhắc lại Thiền Quán chính là Thiền Tứ Niệm Xứ với Quán thân, thọ, tâm, pháp bằng cách sử dụng Chánh niệm tỉnh giác mọi thời, mọi oai nghi và một khi có Chánh niệm tỉnh giác thì phiền não sẽ vắng như bóng tối sẽ biến mất khi bật đèn sáng.

Con rất tâm đắc khi Giảng Sư nhắc lại một điều khi vô thường đến, nếu có Chánh niệm tỉnh giác thì mình chỉ nhìn nó vì biết rằng việc gì có hội tụ thì sẽ có chia ly, và biết rằng còn chung sống là còn duyên, khi hết duyên thì chia tay vậy thôi.

Giảng Sư cũng nhấn mạnh Cổ Đức thường dạy “khi có Phước Đức lưỡng toàn thì sẽ bay trong vòng trời yên ổn “

Giảng sư cũng nhắc đến HT Nhất Hạnh đã áp dụng thiền quán bằng cách đưa Chánh niệm vào trong hơi thở.

Và Giảng Sư cũng chỉ điểm chung giữa sự chứng đắc tứ thiền và 4 quả vị thanh văn như sau :
1- Tu Đà Hoàn (quả dự lưu) khi đã đoạn trừ được 3 kiết sử đó là thân kiến, giới cấm thủ, hoài nghi và còn luân hồi tái sanh 7 lần nữa nhưng sanh ra gặp pháp, sống đời chân tu,
2-Tư Đà Hàm ( nhất lai) chỉ còn tái sanh lại một lần nữa khi làm nhẹ dần thêm tham dục và sân hận cùng với 3 kiết sử đã nói ở trên.
3- A Na Hàm (Bất lai) không trở lại cõi người khi đoạn trừ sạch sẽ 5 hạ phần kiết sử .
4- A La Hán ( Vô Sanh) khi đoạn trừ thêm 5 thượng phần kiết sử và sẽ không còn tái sanh nghĩa là nhập Niết Bàn nhưng sẽ vì hạnh nguyện, chỗ nào muốn đến sẽ xuất hiện, nhưng một khi để lộ tông tích thì niết bàn thị tịch như ngài Hành Tu, Vĩnh Minh vậy.

Và một vị A La Hán sẽ có đủ Tam Minh và Lục Thông.

Kính đa tạ lời giảng thật biện tài, quá thâm thuý nhiều dẫn dụ điển tích cho thính chúng học hỏi.
Để có thể bước vào Tịnh Độ, Giảng Sư đã nhắc lại những câu kệ về Niệm Phật mà Cụ Bà Tâm Thái (thân mẫu Giảng Sư) đã thuộc làu từ lâu và nay đã khắc vào tâm .

"Niệm Phật có phước có duyên,
Tấn tài tấn lợi bình yên cửa nhà.
Niệm Phật trừ đặng tà ma,
Yêu tinh quỉ quái lánh xa ngàn trùng.
Niệm Phật năng khử độc trùng,
Các loài ác thú hóa hung làm hiền.
Niệm Phật hết khùng hết điên.
Có gương trí huệ có đàng quang minh.
Niệm Phật khỏi sự bất bình,
Sự người chẳng nhớ sự mình chẳng ưa.
Niệm Phật cứu số long đong,
No cơm ấm áo thung dung mãn đời.
Niệm Phật cảm động khắp nơi,
Ai ai cũng mến người người đều thương.
Niệm Phật sanh dạ hiền lương,
Từ bi thì có, bạo cường thì không.
Niệm Phật trời cũng thương lòng,
Thường thường ủng hộ cả trong đêm ngày"


(Mời xem trọn bài sám nguyện Niệm Phật này)




Chúng ta thường niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thì ít nhất cũng cần hiểu rõ nghĩa của những chữ ấy như sau:

Nam Mô quy mạng, quay về nương tựa
A = Vô
Di Đà= Lượng
Phật= Giác ( chính là Tánh Biết, và ông Phật bên trong của mỗi người, Phật tánh )

Như vậy:

Về sự: niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, có nghĩa là: con kính lễ Phật A Di Đà
Về lý: niệm danh hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, có nghĩa là: con quay về với tánh giác của chính con

Tới đây điểm chung và chính yếu của Thiền và Tịnh Độ đã rõ ràng khi ta chỉ cần đọc kinh A Di Đà mà Đức Phật đã giới thiệu cõi Cực lạc như sau :


"Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương, quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp.”

HT Thích Trí Tịnh dịch nghĩa:

"Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.”


TT Giảng Sư lưu ý đại chúng nên nhớ con số 10 trong câu kinh trên.
Con số mười đó chính là chỉ 5 hạ phần kiết sử và 5 thượng phần kiết sử, nghĩa là muốn được vãng sanh về nơi Cực Lạc phải đoạn trừ được 10 kiết sử mới gặp được Phật A Di Đà tượng trưng cho Vô Sanh ( không sinh không chết) nghĩa là chứng được A La Hán.

Niệm Phật chỉ là phương tiện - Đức Phật A Di Đà là chân lý tối cao, biến khắp trong tâm niệm của cả chúng sanh, A Di Đà Phật và tâm chúng sanh tương thông tương dung, chúng sanh khẩu niệm A Di Đà Phật, tâm tưởng A Di Đà Phật, tự tâm có thể hiển hiện Đức Phật A Di Đà, cho đến mười phương chư Phật cũng hiện trong đó. Tâm làm Phật, tâm niệm duyên pháp giới Phật, đó là nguyên lý quan trọng của pháp môn niệm Phật.

Lục tự Di Đà vô biệt niệm
Bất lao đàn chỉ đáo Tây Phương

Có nghĩa:
Sáu chữ Di Đà liên tục niệm
Không mất công lao nhọc, sát na đến Tây Phương.

Do đó điều cần nhất cho người dù tu Thiền hay tu Tịnh đều cần phải hội đủ 3 Phước sau đây:
1-Hiếu dưỡng Phụ mẫu, phụng sư Sư Trưởng, từ tâm bất sát và tu 10 thiện nghiệp
2-Quy y tam bảo - thọ trì ngũ giới - không phạm oai nghi
3- Phát Bồ Đề Tâm, tin sâu giáo lý nhân quả, tụng đọc kinh điển đại thừa, khuyến tấn người khác tu tập.
Lời kết :
Bài pháp thoại của TT Giảng Sư hôm nay lại trùng hợp với những điều HT Viên Minh đã trả lời trong mục hỏi đáp cho một câu hỏi trong mục hỏi đáp của Trung tâm Hộ Tông mà con đã đọc được.

HT Viên Minh có nhắc đến những điều có liên quan về Tánh Biết ( VÔ SANH)

1) Điều quý giá nhất trên đời là tánh biết
2) Điều quan trọng nhất trên đời là giác ngộ được tánh biết
3) Hiểm hoạ lớn nhất là không nhận ra tánh biết.
4) Muốn diệt trừ hiểm hoạ ấy cần thường trọn vẹn rõ biết.
-----------
Hiểm hoạ vì chạy theo ảo tưởng và vọng thức (tập đế) đưa đến phiền não khổ đau (khổ đế) trong sinh tử luân hồi.
Và Ngài còn chỉ rõ thêm cái Thấy về Sự Thật để có thể bước vào dòng, đó là Tư đà hoàn ( thấp nhất của Nhập lưu)
- Buông chấp ngũ uẩn là "ta", "của ta" hoặc "tự ngã"
- Buông hoài nghi về nguyên lý vận hành của pháp chân đế
- Buông sự bám chấp vào hình thức chế định tục đế.”

Như vậy dù Tu thiền hay Tịnh Độ lúc nào cũng giữ được tâm rỗng lặng trong sáng, không tạo nghiệp thì thoát vòng lục đạo. Đó cũng là biểu trưng của con số 7 trong 7 đóa hoa sen của Thái Tử Tất Đạt Ta bước lên trong ngày đản sinh, vượt qua số 6 (ra khỏi lục đạo.

Kính đa tạ Giảng Sư đã ban một bài pháp thoại tuyệt vời trên cả tuyệt vời dù Ngài chưa kịp nghỉ ngơi gì sau một tuần lễ đảm nhiệm vai trò Hoá Chủ của Tuần lễ Khoá An Cư kiết Đông tại Tu Viện Quảng Đức thật xuất sắc và chu đáo từ trong ra ngoài.

Kính chúc Ngài Giảng Sư pháp thể khinh an, pháp duyên vô ngại hầu chúng đệ tử còn nghe thêm những bài pháp tuyệt vời khác nữa trên bước đường hoằng hoá độ sanh của Ngài .

Kính tri ân Hoà Thượng Phương Trượng, TT Trụ trì và Sư Cô Giác Anh đã điều hợp khoá tu Tịnh Nghiệp bằng cách áp dụng Thiền chỉ và Niệm Phật song hành khiến chúng đệ tử được nhiều an lạc. Kính chúc quý Ngài thân tâm thường tịnh lạc, phước trí nhị nghiêm.

Và kính chúc quý đạo hữu trong khoá tu học được dồi dào sức khỏe, gia đình thân quyến hạnh phúc an yên.

Kính trân trọng,
Thiền Lâm Pháp Bảo trang nghiêm thanh tịnh quá !
Thời tiết khắc nghiệt khó cản bước chân du
Đại chúng hồ hởi với Thiền Tịnh Song Tu
Tu đạo nương kinh phật, hành đạo từ tâm khởi!
Khoá tu tịnh nghiệp 10 ngày giúp đổi mới
Siêng năng tinh tấn nghe pháp thoại càng nhiều
Tinh yếu giải bày tuyệt diệu …phiền não mất tiêu
Kính đa tạ Giảng Sư …
giúp chúng đệ tử nhận được điểm chánh!
Thiền, Tịnh đều phải trở về Tự Tánh!
Diệt trừ 10 kiết sử sẽ đến Niết Bàn
Thiền môn là nơi gặp gở bậc thiện lành
Đúng pháp tu hành cũng cần thêm 3 Phước!
Thoát khỏi 6 nẻo luân hồi …ấy điều nguyện ước!


Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát

Melbourne 12/7/2022
Huệ Hương
Hình ảnh: Phật tử Diệu Hiền
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/06/2022(Xem: 3596)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
17/11/2021(Xem: 10358)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 8642)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
08/11/2021(Xem: 7058)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 6641)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 9401)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
23/07/2021(Xem: 5962)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
07/05/2021(Xem: 9289)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
29/11/2020(Xem: 8417)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/2020(Xem: 5279)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,501,689