Kính phiên tả lại toàn bộ short video này để mời các bạn cùng thực hiện vào ngày đầu năm Bính Ngọ nhé như thay lời chúc đầu năm.
Muốn cho một lời cầu nguyện được ứng nghiệm phải hội đủ 4 loại LỰC LỚN NHẤT CỦA PHÁP GIỚI .
1- LỰC TỊNH NGHIỆP ( Thanh tẩy trở ngại trong tâm)
Một lời cầu chỉ mạnh khi tâm không bị che phủ bởi sân hận, tham ái, nghi ngờ, tà kiến .
Khi tâm đầy cấu uế, lời cầu bị nhiễu như sóng Radio nhiễu tần số ..
Muốn lời cầu trở thành tất ứng, phải nghiêm giữ giới luật, không sát sinh, không vọng tâm, không tà dục, không làm lợi mình mà tổn hại sinh linh khác .
Cần hối lỗi chân thành cho những nghiệp xấu mà mình đã gây ra.
Khi tâm trong sạch, tần số cầu nguyện của ta chạm được tầng Phật và các Ngài có thể tiếp nhận mà không bị nhiễu loạn
2- LỰC CÔNG ĐỨC, PHƯỚC ĐỨC
Có thể điều chúng sinh ít hiểu nhất chính là NĂNG LƯỢNG CÓ THỂ HOÁN ĐỔI THÀNH KẾT QUẢ, mà công đức và phước đức là năng lượng tinh vi của Phật dùng để chuyển lời cầu nguyện thành quả . Không có công đức phước đức , lời cầu nguyện như một ngọn đèn không dầu .
Nhiều người cầu mãi mà không ứng gì, vì sao vậy? vì họ không giữ đạo Hiếu, không hành thiện, không bố thí, không giúp đỡ ai, không tu tập nhưng lại đòi hỏi VŨ TRỤ PHẢI ĐÁP LẠI .
Thật ra Phật không khước từ lời cầu, chỉ là người cầu nguyện ấy không có đủ năng lượng để chuyển thành kết quả.
3-LỰC THÀNH TÂM - Đây chính là sự nhất niệm làm rung chuyển Pháp giới
Trong kinh Đức Phật dạy “ TÂM THÀNH THÌ CẢM ỨNG, TÂM KHÔNG THÀNH THÌ PHÁP KHÔNG ỨNG”
Thành tâm không phải là khóc lóc xin, thành tâm là một niệm thuần khiết không hai, không dao động,
Một người chỉ cần một niệm như thép, không do dự, không lẫn tạp, niệm ấy mạnh hơn hàng ngàn lời cầu rời rạc . Đến khi tâm ta đạt được một niệm bất thoái, lời cầu nguyện của ta sẽ như lửa chạm vào cây khô, tất yếu bùng lên lập tức
4-LỰC PHÁT NGUYỆN VỊ THA - Đây là cảnh giới của Bồ Tát cũng là bí mật cho lời cầu nguyện không bao giờ bất bại .
Nếu ta chỉ cầu cho bản thân, ta sẽ bị nghiệp riêng chi phối .
Nếu ta cầu cho lợi ích chúng sinh pháp giới sẽ chi phối và pháp giới luôn ưu tiên cho những lời cầu nguyện mang lợi ích rộng lớn.
Muốn cho lời cầu nguyện nhất định tất thành , HÃY XOAY TÂM. Điều này thành tựu để chúng ta cứu độ được nhiều người hơn
Vĩ dụ như vầy:
- Ta cầu có sức khỏe để tu tập tinh tấn, hoằng pháp sâu xa.
Ta cầu trí tuệ để khai mở cho kẻ vô minh
Ta cầu thoát nạn để tiếp tục bố thí và cứu giúp người
Và nhất là khi lời cầu mang tần số của Bồ Đề tâm, chư Phật sẽ tự động gia trì mạnh gấp nhiều lần vì đó không còn là lợi ích cá nhân nữa
Tóm lại khi 4 lực này hợp lại, lời cầu nguyện của ta trở thành mệnh lệnh của pháp giới
Hết phiên tả , và sau đây là vài cảm nghĩ mà người viết đã thu nhận sau nhiều ngày lắng tâm —-
Cầu nguyện sâu nhất là khi tâm mình đổi hướng, dù cảnh chưa đổi.
Lời cầu nguyện trong sáng
Con không cầu cho gió đổi chiều
Chỉ xin lòng bớt ngược
Không cầu đường đời phẳng lặng
Chỉ xin bước chân đừng làm đau ai.
Con ngồi yên không để xin mà để rửa.
Rửa những ý nghĩ cũ
đã từng cầu mà còn mặc cả
Rửa những giọt thành tâm
chưa kịp buông tên mình ra
Con nhớ lại nghiệp xưa
không để hối mà để sạch.
Con gom thành tâm bằng im lặng
Đem đặt trước trời cao
Như đặt một bát nước trong.
Nếu nước chưa trong
Xin cho con biết đợi
Nếu nước còn đục
Xin cho con dám nhìn.
Con khởi Bồ-đề tâm
không bằng lời nguyện lớn
mà bằng một ý rất nhỏ:
“Xin cho người khác nhẹ hơn con.”
Không phải khi nói lời lớn
Mà khi vừa khởi một ý nghĩ
Đã biết nghĩ cho người khác trước mình
Con đặt phước đức xuống đất
bằng một việc không ai thấy
Con đặt công đức vào gió
bằng một lời không ai nhớ.
Phước đức con không đếm
Công đức con không treo
Con chỉ lặng lẽ sống sao…
Để đời bớt lạnh.
Rồi con cầu.,…
Không cầu cho con
mà cầu cho mạch đạo
được thông qua con
dù chỉ trong một hơi thở.
Nếu điều con cầu,
gồm chung bốn lực
Xin cho thành…
Nếu chưa hợp
Xin cho con đủ sáng
Để hiểu vì sao chưa đến.
Con cúi đầu không vì sợ
Mà vì biết ơn
Rằng được cầu như thế này thôi
Đã là một cảm ứng.
Nếu có cảm ứng
xin đến âm thầm
như sương ướt áo
không cần biết từ đâu.
Nếu chưa cảm ứng
xin cho con đủ tịnh
để không nghi ngờ Bồ Tát
vì chính con chưa mở cửa.
( Thơ HH )
Và khi Ngài dạy trongLỰC PHÁT NGUYỆN VỊ THA - Đây là cảnh giới của Bồ Tát cũng là bí mật cho lời cầu nguyện không bao giờ bất bại .
Đức Đạt Lai Lạt Ma gọi là lực, Bồ Tát gọi là hạnh, và những người tu tập như chúng ta gọi đấy là dòng chảy.
Có phải “Cảnh giới Bồ Tát không phải nơi để đến” mà là trạng thái tâm đủ tịnh để không còn ngăn.
Và điều “bí mật” duy nhất ở đây là: Bồ Tát không đáp lời cầu — Bồ Tát đáp đúng tâm.
Và phải chăng chúng ta cần lắm ….
LỜI NGUYỆN KHÔNG TIẾNG
Có những lời nguyện
không bay lên trời
mà lắng xuống rất sâu
trong một đời người.
Không phải khẩn cầu điều lớn lao,
chỉ lặng lẽ
lau sạch một ý niệm còn vướng bụi,
buông một tham cầu vừa khởi lên trong tim.
Khi nghiệp được tịnh
không phải vì quá khứ biến mất,
mà vì hôm nay
ta không còn nuôi nó nữa.
Khi Bồ-đề tâm khởi
không phải vì ta muốn thành ai,
mà vì ta không còn đủ lòng
để quay lưng trước khổ đau của người khác.
Lúc ấy,
lời nguyện không cần lời,
trời đất không cần chứng.
Nhân quả đã lắng nghe
từ khoảnh khắc
tâm thôi cầu cho riêng mình.
Và cảm ứng đến
không như một phép màu rực rỡ,
mà như một buổi sáng rất yên:
ta biết điều cần làm,
biết điều nên dừng,
biết mình đang đi đúng.
Người phát nguyện như thế
có thể vẫn lặng thầm,
nhưng con đường
đã bắt đầu mở ra dưới chân.
Kính chúc các bạn một năm đầy luôn gặp được cảm ứng với mọi lời cầu nguyện thật thành tâm
Phật tử Huệ Hương
Sydney, những ngày cuối năm Ất Tỵ
“TÂM, TÍN, TRÍ, DŨNG “
Một ngày, giữa tháng 1/2026 người bạn vừa đi du lịch về có ghé chơi và tặng một bản thư pháp với 4 chữ TÂM, TÍN, TRÍ, DŨNG và cũng ngày đó trên Google , phần quotes of the day lại ghi lời phát biểu của Bill Gates về Ai như sau
“I am optimist because I see what innovation accelerated by AI will bring . And I don’t believe we will slide back to the Dark Ages.”Tạm dịch “Tôi lạc quan vì tôi thấy những gì đổi mới được AI tăng tốc sẽ mang lại.Và tôi không tin nhân loại sẽ trượt lùi về Thời kỳ Đen tối.”
Tự nhiên mình thấy câu nói này lại vô tình trùng khớp với bốn chữ mình vừa được tặng:
-) TÂM: Trí tuệ nhân tạo khuếch đại cái tâm đang có
-)TÍN: Xã hội vẫn cần con người đáng tin, không phải thuật toán
-) TRÍ: Trí tuệ nhân tạo không thay thế trí tuệ, nó phơi bày ai có trí và ai chỉ có thông tin
-) DŨNG: Dũng khí lớn nhất hôm nay là dám học lại từ đầu, không phòng thủ
Và điều này khiến người viết đã sưu tầm và nghiên cứu thật từng chi tiết để chiêm nghiệm lại những tinh yếu sâu sắc mà cổ nhân đã lưu lại cho đời cũng như câu nói của Bill Gates có khiến chúng ta suy ngẫm hơn trong thời điểm nhiều người vừa kỳ vọng vừa sợ hãi AI.
Và bây giờ chúng ta đi vào bốn chữ TÂM – TÍN – TRÍ – DŨNG , mà theo người viết đây có thể là một tặng phẩm với ý nghĩa tâm linh rất sâu. Và người tặng nó còn hàm ý không chỉ là lời chúc phúc, mà đúng hơn là một bản đồ tu dưỡng; và còn muốn nhắn nhủ mình rằng không phải phúc đức tự rơi xuống, mà TÂM – TÍN – TRÍ – DŨNG là nguồn mạch sinh ra phúc đức khi được sống và thực hành.
Nào mời các bạn cùng đi vào chi tiết mình đã tham khảo nhé :
Bốn yếu tố này là những trụ cột quan trọng, giúp định hình nên một con người có đạo đức và bản lĩnh.
1. Ở tầng đạo lý đời sống (đạo làm người)
TÂM– gốc rễ- Lòng tốt, sự nhân ái- Đây là nền tảng quan trọng nhất của đạo đức. Một người có tâm (biết yêu thương, đồng cảm, vị tha, và sống thiện) sẽ có xu hướng hành động vì lợi ích chung, tránh làm điều ác, và cư xử đúng mực với mọi người.
-Tâm là ý hướng bên trong: thiện hay bất thiện, sáng hay u tối.
-Mọi hành vi đều khởi từ tâm; tâm lệch thì trí cũng thành xảo trá, dũng thành liều lĩnh.→ Tu tâm không phải để “tốt hơn người khác”, mà để không tự phản bội chính mình.
TÍN – nền tảng đứng vững-(Uy tín, sự trung thực): Tín liên quan đến việc giữ lời hứa, trung thực và đáng tin cậy. Yếu tố này xây dựng lòng tin trong các mối quan hệ xã hội và là một phần thiết yếu của hành vi đạo đức.
Tín là đáng tin (với người) và tự tin (với chính mình).
Người thiếu tín có thể thông minh, có thể can đảm, nhưng không bền.→ Tín là thứ khiến người khác dám trao gửi, và khiến trời đất “mở đường”.
TRÍ – ánh sáng soi đường-(Trí tuệ, sự hiểu biết): Trí tuệ giúp con người phân biệt đúng sai, hiểu rõ hậu quả hành động của mình và có khả năng đưa ra những quyết định sáng suốt, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức. Thiếu trí tuệ, dù có tâm tốt cũng có thể dẫn đến những hành động sai lầm
Trí không chỉ là học thức, mà là biết đúng lúc, biết giới hạn, biết nhân quả.
Trí giúp phân biệt: khi nào tiến, khi nào dừng; khi nào nói, khi nào im.→ Không có trí, tâm dễ bị lợi dụng; có trí mà thiếu tâm thì thành nguy hiểm.
DŨNG– lực để sống đúng-(Lòng dũng cảm, bản lĩnh): Dũng khí là cần thiết để bảo vệ lẽ phải, chống lại cái ác, và dám chịu trách nhiệm về hành động của mình. Nó giúp con người vượt qua sợ hãi và cám dỗ để làm điều đúng đắn
Dũng không phải là gan lì, mà là dám sống theo điều mình đã biết là đúng.
Dũng lớn nhất là: dám không làm điều sai dù có lợi, dám chịu cô độc khi cần.→ Dũng là nơi đạo đức được “hiện hình” trong hành động.
2. Ở tầng tu dưỡng nội tâm (tự rèn mình)
Bốn chữ này không ngang hàng, mà có trật tự nội sinh: TÂM → TÍN → TRÍ → DŨNG
-Tâm ngay → sinh Tín (người khác cảm được, mình cũng không nghi mình)
-Có Tín → tâm an → Trí sáng
-Có Trí → mới biết Dũng ở đâu là đúng chỗ
Nếu đảo ngược:
-Dũng mà không Trí → liều
-Trí mà không Tâm → xảo
-Tâm mà không Tín → yếu
-Tín mà không Dũng → hèn
Do vậy, bức thư pháp này không khuyên hành động trước, mà khuyên mình nên chỉnh nội tâm trước.
3. Ở tầng phúc đức và nhân quả
Phúc đức không đến từ bốn chữ này, mà đến từ việc sống đúng với bốn chữ này.
TÂM sinh thiện nghiệp, TÍN tích âm đức (người nhớ ơn, trời nhớ mình), TRÍ tránh được đại hoạ, DŨNG vượt qua được đại nạn
Như vậy Phước ( Phúc) không phải lúc nào cũng là tiền bạc hay thuận lợi, mà là:
-Gặp đúng người vào lúc cần
-Tránh được tai ương không ngờ
-Giữ được nhân cách khi biến động
Đó là phúc sâu, không ồn ào.
4. Ở tầng tinh yếu (rất quan trọng)
Bốn chữ này cũng có thể đọc như bốn câu hỏi tự quán mỗi ngày:
-TÂM: Việc này có làm mình nhỏ lại không?
-TÍN: Nếu người khác biết, mình có hổ thẹn không?
-TRÍ: Hệ quả lâu dài là gì?
-DŨNG: Biết vậy rồi, mình có dám sống theo không?
Người sống được như thế, không cần cầu phúc, vì đã đứng đúng nơi phúc tìm đến.
Và một duyên may hôm nay người viết có nghe được bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma về Sự thật về bản chất của tiền và phước, trên YouTube/ kênh Tâm An Định
Như vậy thì câu nói của Bill Gates tại sao lại trùng hợp, hãy cùng giải thích từng vế, bạn nhé
“I am optimist because I see what innovation accelerated by AI will bring” tạm dịch là “ Tôi lạc quan vì tôi thấy những gì đổi mới được AI tăng tốc sẽ mang lại.”
Ở đây, Gates không nói “AI tốt”, mà nói AI là chất gia tốc.
-Đổi mới (innovation) đã có sẵn trong khoa học, y tế, giáo dục, quản trị.
AI chỉ làm cho: (thời gian ngắn lại-chi phí thấp hơn- tri thức đến được với nhiều người hơn)
Phải chăng Bill Gates lạc quan không phải vì AI, mà vì năng lực con người được mở rộng.
Và vế tiếp theo “And I don’t believe we will slide back to the Dark Ages.” Tạm dịch “ Và tôi không tin nhân loại sẽ trượt lùi về Thời kỳ Đen tối.”
Như vậy nghĩa bóng của “Dark Ages” ở đây không phải là nghèo đói, mà là:(-sợ hãi tri thức-khép kín tư duy-quyền lực dựa trên ngu dốt- mê tín thay thế hiểu biết)
Phải chăng Bill Gates tin rằng: “Một khi tri thức đã được phổ biến đến mức này,nhân loại không thể giả vờ ngu trở lại.”?
Phải chăng điều Bill Gates không nói ra nhưng rất rõ về kinh nghiệm bản thân Ông thuộc lớp người đã chứng kiến: -máy tính cá nhân từng bị coi là nguy hiểm -internet từng bị xem là hỗn loạn- giáo dục mở từng bị xem là phá hoại trật tự)
Và lần nào cũng vậy: kẻ sợ hãi la to nhất-người hưởng lợi sâu nhất lại là người học cách dùng sớm
Và một người biết sử dụng khéo Tâm-Tín , Trí , Dũng thì AI không kéo nhân loại vào bóng tối. Chỉ có con người từ chối trưởng thành mới tự đi vào bóng tối.
Và thực ra chúng ta không cần sống trong kỷ nguyên AI., mà chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà đạo đức, trí tuệ và dũng khí của con người bị soi sáng mạnh chưa từng có.
Câu nói này thực chất là một lời phê bình nỗi sợ tập thể, có lẽ, chúng ta nên đồng ý với Gates ở một điểm cốt lõi:
Vì AI
-không có đạo đức → nên nó không phá đạo đức
-không có ý chí → nên nó không cướp ý chí
-không có bản ngã → nên nó không làm con người tha hóa
Thứ tha hóa cần đáng lưu ý chính là; (-lười tư duy- sợ trách nhiệm- muốn được dẫn dắt mà không chịu tự học)
Và phải chăng chỉ có ai chịu tu dưỡng và hội đủ Tâm, Tín, Trí, Dũng sẽ tìm thấy AI thật lợi ích trong thời đại tiến hoá cực kỳ nhanh
Lời kết –
Tâm, Tín, Trí, Dũng là những phẩm chất tuyệt vời để hướng tới. Tuy nhiên, đạo đức cá nhân là một bức tranh đa chiều, được vẽ nên từ sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp chúng ta hoàn thiện bản thân một cách toàn diện hơn
Ngoài 4 yếu tố trên, đạo đức cá nhân còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác khác:
-Môi trường xã hội và văn hóa: Các chuẩn mực, quy tắc và giá trị của cộng đồng, gia đình, và xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành đạo đức của một cá nhân.
-Giáo dục: Quá trình học tập và rèn luyện từ gia đình, nhà trường, và xã hội đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền tải và củng cố các giá trị đạo đức.
-Ý thức đạo đức cá nhân: Đây là sự tự nhận thức, niềm tin sâu sắc vào các chuẩn mực đạo đức và sự tự nguyện điều chỉnh hành vi của bản thân cho phù hợp.
-Thói quen đạo đức: Những hành vi đạo đức được lặp lại thường xuyên, trở thành nhu cầu tự nhiên của con người cũng là một yếu tố quan trọng.
Người viết sau khi tìm hiểu rất trân trọng tặng phẩm quý giá này và nghĩ rằng bức thư pháp này không phải để treo cho đẹp, mà để mỗi khi đời chao đảo, ta còn một trục đứng.
Hãy làm sao ở được trong con đường của TÂM – TÍN – TRÍ – DŨNG thì một một năm mới đến tâm không lệch, tín không mất, trí không mờ, dũng không cạn.
Và như vậy là đủ sâu cho cả một đời dù thời đại AI có chiếm ngự , bạn có đồng ý không ?
Kính trân trọng
Huệ Hương
Lời tạ ơn chân thành .
Nếu cuối tháng 11 hằng năm tại Mỹ và Canada có lễ tạ ơn ( Thanksgiving) để tri ân cuộc sống no đủ thì người Việt tại nhiều vùng quê cũng có nghi thức truyền thống quan trọng lễ tạ ơn cuối năm vào ngày 16 tháng 12 âm lịch ( tạ ơn trời đất, tổ tiên sau một năm) ngày này trước 1 tuần, lễ đưa ông Táo .
Đây cũng là dịp để nhìn lại, tri ân và chuẩn bị đón nhận những điều may mắn trong năm mới.
Bàn thờ cúng thường là lộ thiên gồm hoa, trái cây và xôi chè ( đặc biệt chè trôi nước ) vào lúc 12 giờ trưa (Giờ Ngọ) là lúc mặt trời đứng bóng, năng lượng dương mạnh mẽ nhất, tượng trưng cho sự sáng tỏ và chính trực.
Người viết hơn 15 năm nay vẫn tuân thủ nghi thức này vì nhận thấy quả thật đã trải nghiệm hạnh phúc khi tiếp nhận bao điều linh ứng từ những lời cầu nguyện . Kính chia sẻ những lời tạ ơn qua những dòng thơ xuất phát từ trái tim với tinh thần tự tại vô sở cầu như bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và những yếu tố cốt lõi để tạo nên sự tạ ơn chân thành theo cả góc độ văn hóa và tâm linh .
"Kính lạy
Hồn thiêng sông núi, Tổ tiên nguồn cội,
Mượn nén tâm hương, kính tỏ bày:
những điều tốt đẹp con đã tiếp nhận
Chắc chắn không phải là hiển nhiên.
Mà chính do “Ơn trên đáp ứng lòng thiền”
Nay trong ngày lễ tạ ơn linh thiêng
Đôi lời lời tâm huyết, với tất cả an định.
Tuy mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.
Khấn rằng “ những ân lành đã thành tựu “
nguyện đa tạ trân kính
Tín tâm nuôi lớn , thị phi gác ngoài
Hương trầm nhẹ tỏa, rọi soi đêm ngày
Hân hoan chắp búp tay sen thầm đọc lời dạy
Nguyện ….dù trước những biến động của thời đại!
Sẽ như từng đốm lửa chân thật thắp sáng
Mọi ưu phiền liền hóa thành mây
mọi hiểm nguy hóa lành.
Nguyện không danh tướng đua tranh,
Khiêm nhường thuần khiết ,
lòng thành như gương.
Dẫu đời vạn nẻo tơ vương,
Tâm không vướng bận,
mười phương nhẹ nhàng."
Nguyện đủ tỉnh, không buộc ràng
“Biết ơn “ hạt giống thênh thang tạ người
Nguyện không chứng tỏ với đời,
Thong dong tự tại, mỉm cười an nhiên
Nguyện cho chân cứng đá mềm,
Sống đời tỉnh thức, ấm êm cõi lòng."
Và cuối cùng
Nguyện cho con nhận ra được
mình nhỏ bé giữa nhân gian
Trong mọi hành động tử tế của con
đủ bao dung
để không cần chứng minh mình đúng, sai
Và mãi mãi mang lại bình an
đến tự thân và mọi người xung quanh."
Kính trân trọng
Phật tử Huệ Hương
——————
Phụ lục
——Yếu tố để tạo nên sự tạ ơn chân thành
Sự Nhận Biết (Acknowledgment): Đây là bước đầu tiên. Bạn cần tĩnh lặng để nhìn lại và gọi tên chính xác những ơn lành, sự giúp đỡ hay những lời cầu nguyện đã được đáp ứng. Sự chân thành bắt đầu khi ta không xem những điều tốt đẹp là hiển nhiên.
Lòng Khiêm Cường (Humility): Để tạ ơn thật lòng, ta cần hạ thấp cái tôi và thừa nhận rằng những thành quả có được không chỉ do nỗ lực cá nhân mà còn nhờ vào ơn trên, tổ tiên, hoặc sự hỗ trợ từ cộng đồng.
Sự Thành Thật (Sincerity): Lời tạ ơn phải xuất phát từ cảm xúc thật bên trong thay vì chỉ là một nghi thức mang tính "giao dịch" hay trả lễ. Hãy nói hoặc cầu nguyện bằng những lời lẽ mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.
Sự Hiện Diện (Presence): Sự chân thành đòi hỏi bạn phải hoàn toàn tập trung vào phút giây hiện tại của buổi lễ. Tránh sự lo ra hay làm cho có lệ.
Hành Động Đền Đáp (Action/Generosity): Một sự tạ ơn trọn vẹn thường dẫn đến mong muốn lan tỏa lòng tốt. Theo biết ơn cần được thể hiện đúng cách thông qua việc giúp đỡ người khác hoặc đóng góp cho cộng đồng từ những gì mình đã nhận được.
Sự Kết Nối (Relatedness): Buổi lễ là dịp để thắt chặt tình thân và sự gắn kết với nguồn cội, tổ tiên và những người xung quanh.
—- Trích đoạn Lời cuối của bài giảng trên YouTube ngày 30/1/2026 (short video của Đức Đạt lai Lạt Ma về GIỮ THÂN TÂM KHÔNG SỤP ĐỔ KHI NGHIỆP TRỔ “)
…..Người có trí huệ thấy nghiệp trổ thì biết đây chính là “ Bài kiểm tra của Vô Minh”
vì nếu ta còn hỏi “tại sao bao giờ tôi mới hết khổ ?, hoặc tôi không chịu nổi nữa , thì khi ấy vô minh còn nắm quyền .
Người đứng vững giữa nghiệp đang khổ, không phải là làm cho KHỔ biến mất mà là “ không để KHỔ BIẾN TA THÀNH NGƯỜI TẠO NGHIỆP MỚI “
Một khi trí tuệ phát sinh , thì người ấy để nghiệp cũ trổ cho xong thì nghiệp mới không có cơ hội sinh ra. Đó là điểm chuyển nghiệp sâu nhất, và trong hành trình tu tập họ sẽ bước vào tầng cao hơn , họ đã được chư thiên, chư thiện thần hết lòng hộ trì.
Cần có một chánh kiến rằng: Giải thoát khỏi trói buộc không phải là nghiệp khổ hoàn toàn biến mất mà chỉ là NGHIỆP KHÔNG CÒN QUYỀN SAI KHIẾN
Thân ta vẫn chịu lão hóa, bịnh đến , những điều kiện xã hội hệ quả nhan duyên cũ, nhưng TÂM THÌ KHÔNG CÒN BỊ DAO ĐỘNG
Trong kinh , trạng thái này được mô tả HÀNH MÀ KHÔNG CHẤP THỦ , THỌ MÀ KHÔNG ĐỒNG HOÁ “ đây không phải là hiện tượng thần bí ở mà chỉ là SỰ CHUYỂN HOÁ CẤU TRÚC VẬN HÀNH CỦA TÂM .
Bấy giờ Tâm không vội phản ứng,
đây là sự thoái hóa ngã chấp và là sự tự tại nhất ở chiều sâu
TỰ TẠI KHÔNG PHẢI LÀ MUỐN GÌ CŨNG ĐƯỢC, MÀ LÀ KHÔNG BỊ ÉP PHẢI LÀM , VÀ KHÔNG CẦN PHẢI CHỨNG MINH MÌNH LÀ AI !
Tác giả William Edelglass là tân giám đốc về nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Học Barre và là giáo sư triết học và môi trường tại Trường Cao Đẳng Marlboro College tại tiểu bang Vermont. Công việc của ông đã đưa ông tới Dharamsala, Ấn Độ, nơi ông dạy cả triết học Tây Phương cho chư tăng Tây Tạng tại Học Viện Institute of Buddhist Dialectics và triết lý Phật Giáo cho các sinh viên đại học Mỹ về chương trình nghiên cứu Tây Tạng.
Bài này trích dịch từ Quý San năm 2019 có chủ đề “Buddhadharma: The Practitioner’s Quarterly,” đăng ngày 14 tháng 5 năm 2019 trên trang mạng Lion’s Roar.
Vì thương xót hết thảy hữu tình phải chịu phiền não, đau thương do tham ái mà bị trôi dài trong bể khổ sinh tử luân hồi, Đức Phật hiện ra ở đời để lại cho thế gian vô số pháp môn tu tập, tùy theo căn cơ, sở trường và hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà chọn lựa pháp hành thích ứng để tu tập nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau thành an lạc, giải thoát, niết bàn. Chư pháp của Thế Tôn được ví như những thang thuốc tùy bệnh mà bốc thuốc. Trong số đó, Tuệ quán vô thường, khổ và vô ngã của tất cả pháp, qua đó hành giả quán tánh ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly của tất cả pháp, là pháp “tối thượng” và vi diệu ‘nhất’ vì nếu hành giả thường xuyên hành trì sẽ ‘chứng đạt’ Tuệ Giải Thoát, vị ấy sẽ đoạn tận mọi kiết sử, không còn khổ đau, phạm hạnh đã thành, chánh trì giải thoát, là bậc A-La-Hán.
Cuộc sống, nhìn quanh đâu cũng thấy Thật. Bạo động cũng có thật, giả dối cũng là thật, tham dục cũng hiện hữu thật,sợ hải cũng có thật ,nhiếp phục uế trược cám dỗ cũng thật, tài sản, vợ con, tình yêu, danh vọng, địa vị …đều thật hết.
Chính cái Thật đó mà khổ đau phát sanh cũng là Thật.
Triết Học Phật Giáo Ấn Độ,
Hayes Richard,
Thích Nguyên Tạng (dịch),
Phật giáo (PG) là một thành tố quan trọng, hỗn hợp các triết lý khác của tiểu lục địa Ấn Độ trong hơn một ngàn năm qua. Từ phần đầu khá lặng lẽ, vài thế kỷ trước Tây lịch, nền học thuật PG gia tăng sức mạnh cho tới khi đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng và tính chất độc đáo trong nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất. Từ thế kỷ thứ mười một trở đi, PG dần dần suy thoái và cuối cùng biến mất ở miền Bắc Ấn Độ. Mỗi nhà tư tưởng chú trọng vào những đề tài khác nhau, nhưng khuynh hướng chung của đa số họ là trình bày một hệ thống triết lý nhất quán, bao gồm đạo đức học, tri thức học và siêu hình học. Phần lớn những đề tài mà các triết gia PG Ấn này viết, là phát xuất trực tiếp từ những giáo lý được xem là của Sĩ-đạt-ta Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), thường được tôn xưng bằng danh hiệu là Đức Phật.
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn chương và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn (chương) và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
Kinh Duy Ma Cật, tôi đã có duyên được học với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tại Phật Học Viện Báo Quốc - Huế, sau năm 1975
Tôi rất thích tư tưởng “Tịnh Phật Quốc Độ” của kinh này, khi nghe đức Phật gọi Bồ tát Bảo-tích mà dạy:
“Trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật chúng sinh không dua nịnh sẽ sinh về cõi ấy. Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh nào có đầy đủ công đức sẽ tái sinh về cõi ấy. Bồ đề tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đại thừa sẽ sinh vào cõi ấy.
“Hiểu về trái tim” là một cuốn sách khá đặc biệt, sách do một thiền sư tên là Minh Niệm viết. Với phong thái và lối hành văn gần gũi với những sinh hoạt của người Việt, Minh Niệm đã thật sự thổi hồn Việt vào cuốn sách nhỏ này.
Xuyên suốt cuốn sách, tác giả đã đưa ra 50 khái niệm trong cuộc sống vốn dĩ rất đời thường nhưng nếu suy ngẫm một chút chúng ta sẽ thấy thật sâu sắc như khổ đau là gì? Hạnh phúc là gì? Thành công, thất bại là gì?…. Đúng như tựa đề sách, sách sẽ giúp ta hiểu về trái tim, hiểu về những tâm trạng, tính cách sâu thẳm trong trái tim ta.
Lời tác giả: Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh. Những sự sửa sai và bổ khuyết của quý vị độc giả sẽ giúp bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm vinh hạnh cho chúng tôi.
NVT
Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ?
Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật ?
Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, l
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.