Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lời tựa

04/03/201608:08(Xem: 1737)
Lời tựa

Lời tựa


Tôn giáo học so sánh[1] là môn học mới mẻ, không những ở Trung Quốc, mà ở cả các nước phương Tây. Vì vào thế kỷ XVII, các nhà tư tưởng Tây Âu đã có được cơ hội để tự do phê bình tôn giáo, nên một người Anh tên là Edward Herbert (1581 - 1648), trong quyển Những Tôn Giáo Cổ Của Dân Ngoại[2], bắt đầu nghiên cứu, so sánh và phê bình các tôn giáo nhất thần truyền thống ở phương Tây. Nhưng mãi đến thế kỷ XIX mới có người đem môn học này phát triển sâu rộng thêm.

Từ thời cận đại đến nay, sách vở liên quan đến vấn đề tôn giáo ngày càng nhiều hơn, nhưng ở Trung Quốc, muốn tìm được một cuốn sách nhập môn tương đối đầy đủ về tôn giáo học so sánh cũng không phải chuyện dễ dàng. Do đó, ngoài việc nghiên cứu Phật học, tôi đặc biệt lưu tâm đến vấn đề tôn giáo học so sánh và dự định biên soạn một cuốn sách về môn học này. Cho đến mùa thu năm 1966, tôi vẫn chưa thể bắt tay vào biên soạn cuốn sách của mình. Học viện Phật giáo Thọ Sơn ở Cao Hùng đã vì tôi mà mở một lớp “Tôn giáo học so sánh”. Nhờ đó, qua hơn nửa năm sau, tôi đã hoàn thành được bản thảo của cuốn sách.

Chính vì môn học này ở Trung Quốc còn rất non trẻ, cho nên sự ra đời của cuốn sách cũng chỉ hy vọng gánh vác nhiệm vụ cung cấp cho người mới học những kiến thức vỡ lòng. Tôi đã đứng trên quan điểm của nhân loại học, xã hội học, lịch sử học và triết học, thảo luận một cách khách quan và giới thiệu một cách đơn giản, từ những tín ngưỡng nguyên thủy của nhân loại cho đến các tôn giáo lớn mang tính toàn cầu.

Thích Thánh Nghiêm

Viết tại Thành phố Đài Bắc,

tháng 04 năm 1968.

 


1. Comparative Study of Religion.

2. Tên gốc tiếng Anh là: The Ancient Religion of the Gentiles. Từ “gentile” tiếng Việt dịch là “dân ngoại”, đây là từ mà người Do Thái dùng để gọi những người không tín ngưỡng Thiên Chúa Yahweh của họ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/08/201011:53(Xem: 27243)
Sau khi sinh hoạt của hội chúng đã tạm thời đi vào quy củ, nền nếp; đức Phật thấy thời tiết có nắng nhẹ, trời không lạnh lắm, thuận lợi cho việc du hành nên quyết định rời Gayāsīsa, đến kinh đô Rājagaha, đường xa chừng sáu do-tuần. Thấy đoàn sa-môn quá đông, khó khăn cho việc khất thực, đức Phật gợi ý với ba anh em Kassapa cho chúng đệ tử phân thành từng nhóm,
27/08/201000:50(Xem: 10135)
Còn nghĩ rằng “Đời là thế, vốn dĩ đời là thế”, “giữa cuộc đời cũng chỉ thế mà thôi”. Trước hiên nhà, lá rụng đầy sân, Chớm lộc mới, ngát hương đường cũ. Vậy nên: Hương xưa còn đọng trên đường, Ngàn lau lách ấy xem dường trinh nguyên. Âm ba tiếng hát đỗ quyên, Lung linh trăng nước xe duyên sơn hà.
19/08/201020:01(Xem: 2955)
Có thể vay mượn những lời như vậy để khởi đầu cho sự chờđợi tiếng vọng đáp ứng của những gì đó đang ẩn mình trong bóng tối. Những lờiđược vay mượn ấy không nhất thiết phải là đồng thanh với những cái sắp đáp ứng.Sự tựu thành của những cái đáp ứng này sẽ không xuất hiện trong những tiếngđộng náo nhiệt. Đây là sự tựu thành của một cơn mưa như thác lũ, khi con bướmmùa hè đã chịu khép lại đôi cánh mỏng để lắng nghe trong thầm lặng hơi thở củacỏ nội.
18/07/201008:12(Xem: 6214)
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt đạo Phật trong kinh điển (mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết) với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế. Đạo Phật lý thuyết là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên và tất yếu. Bởi lẽ nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý tưởng và đạo Phật thực tế thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi, và cõi đất này là cõi Phật rồi.
18/07/201003:29(Xem: 5871)
Chúng ta không ai không hấp thụ một nền giáo dục, hay ít ra tiếp nhận một hình thức giáo dục. Thế nhưng chắc chúng ta không khỏi lúng túng khi gặp câu hỏi bất ngờ như trên và khó trả lời ngay một cách vắn tắt trọn nghĩa và trôi chảy.
11/07/201021:53(Xem: 5588)
Có nhiều bài báo, nhiều công trình khảo cứu công phu viết về con số 0 cả từ thế kỷ trước sang đến thế kỷ này. Quả tình, đó là con số kì diệu. Có những câu hỏi tưởng chừng ngớ ngẩn, chẳng hạn, “số không có phải là con số?”, nhưng đó lại là câu hỏi gây nên những trả lời dị biệt, và ở mỗi khuynh hướng tiếp cận khác nhau, những câu trả lời khẳng hoặc phủ định đều có những hợp lý riêng của chúng. Thế nhưng, hầu như ngoài những nhà toán học thì chẳng mấy ai quan tâm đến con số không; có thể nói người ta đã không cần đến nó từ các nhu cầu bình nhật như cân đo đong đếm.
16/06/201000:32(Xem: 1846)
"Vô Ngã" là vấn đề tương đối hơi khó và khiến cho nhiều người nghiên cứu về Đạo Phật phải tốn nhiều công sức để truy cứu, tìm hiểu. Nhưng Vô Ngã lại là vấn đề quan trọng trong giáo lý của Đạo Phật. Tại sao Đạo Phật lại chủ trương "Vô Ngã"?
14/06/201021:12(Xem: 1083)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không nhầm lẫn với những lời dạy bỡi các giáo chủ của các ngoại đạo khác qua: “Các hành là vô thường, các pháp vô ngã và, Niết-bàn tịch tĩnh” cho nên được gọi là ba pháp ấn. Ba phạm trù nội dung nghĩa lý này chúng luôn luôn phù hợp với chân lý cuộc sống qua mọi hiện tượng nhân sinh cùng vũ trụ. Trong ba tạng kinh điển dù là Đại thừa hay Tiểu thừa ba phạm trù tư tưởng nghĩa lý “ Vô thường, vô ngã, Niết-bàn” này đều có hết, với mục đích là dùng để ấn định bảo chứng cho những lời dạy của đức Đạo sư, chứ không phải là những lời nói của Ma. Nếu kinh điển nào mà không mang nghĩa lý của một trong ba phạm trù này thì những kinh điển đó không phải do đức Đạo sư nói ra.
03/03/201009:28(Xem: 4180)
Cách đây hơn 25 thế kỷ, vào khoảng 560 năm trước "thời đại hoang mang" (560 BC): từ của LLoyd M. Graham trong cuốn Deceptions and Myths of the Bible), một nhân vật lịch sử với một tiểu sử rõ ràng đã sinh ra đời để mở đường cho chúng sinh thấy, giác ngộ và hội nhập cái biết và thấy của Phật (Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến). Nhân vật lịch sử này chính là Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn ở miền Nam Népal ngày nay.