Chương 7: Liên Trì Cảnh Sách

25/04/201116:08(Xem: 12843)
Chương 7: Liên Trì Cảnh Sách

LIÊN TRÌ CẢNH SÁCH
Thích Quảng Ánh Việt dịch
Nhà xuất bản Văn Hóa Saigon 2007

Chương VII

LIÊN TRÌ CẢNH SÁCH

1. Niềm tin là nguồn đạo, là mẹ của các công đức

Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: ”Niềm tin là nguồn đạo, là mẹ của các công đức, nuôi lớn tất cả căn lành”. Biển lớn Phật pháp, duy chỉ có niềm tin mới có thể vào được. Chúng ta không những chỉ tin không mà cần phải tin cho thật sâu. Ví như nói ăn thịt là gián tiếp tạo nghiệp sát. Dù không ăn thịt, mạng sống chúng ta không được đảm bảo đi chăng nữa, chúng ta cũng kiên trì không ăn thịt. Nguyện rằng thà trì giới mà chết, chẳng nguyện phá giới mà sống. Nương vào công đức của niềm tin này, hợp với nguyện vãng sinh thế giới Cực Lạc. Đây chính là niềm tin sâu rồi vậy.

2. Quay lại cầu nơi mình

Chúng ta cùng lúc cầu nguyện lực gia hộ của chư Phật và Bồ-tát, đồng thời cũng nên quay đầu lại nơi mình. Nên hỏi lại lương tâm mình có chân thật hay không? Nơi hành vi của mình có thật thà sửa lỗi để hướng thiện hay không? Có chân thật từng lời nói và việc làm trong sinh hoạt thường ngày hay không? Có nỗ lực tích cực công phu trên tám chữ “các ác chớ làm, siêng làm việc lành” hay không? Nếu thật có thể nơi tâm hết sức chân thành mà cầu, trên hành vi chỗ chỗ tự xét lỗi, hổ thẹn sám hối, tâm và hạnh của ta hợp với tâm hạnh của chư Phật, với chư Phật tự nhiên có cảm ứng qua lại. Chư Phật và Bồ-tát tất nhiên sẽ gia hộ cho chúng ta.

3. Không tự tay giết hại

Làm người không nên tự tay giết hại mạng sống chúng sinh. Bởi vì người với chúng sinh đều có Phật tánh. Phật tánh chúng so với tâm Phật không hai không khác. Mỗi người đều có đủ tư cách để trở thành Phật trong tương lai. Tự mình giết hại chúng sinh thì đồng với giết một chúng sinh sẽ thành Phật, tức là làm thân vị Phật tương lai ra máu. Đây chính là đã tạo tội vô cùng sâu nặng.

4. Được thành hạnh nhẫn nhục

Nhẫn nhục là con đường tốt nhất để thành tựu đạo nghiệp của chúng ta. Vì thế, kim Kim Cang dạy: ”Được thành hạnh nhẫn nhục”. Người học Phật phải luôn hổ thẹn sám hối. Việc tốt hướng cho người, việc xấu hướng về mình. Không thấy mình có công, chỉ xét lỗi mình. Đối với mọi người xung quanh không nên nói xấu hoặc gây khó khăn với họ, phải dùng lời ái ngữ để đối xử với nhau. Đây chính là đúng lúc để tiêu trừ nghiệp chướng và thành tựu đạo nghiệp. Kim Kim Cang cũng dạy chúng ta rằng: ”Nếu bị người khinh chê, người này do tội nghiệp đời trước lẽ ra phải đoạ vào đường ác. Nay đời nay bị người khinh chê, nên tội nghiệp đời trước ắt sẽ tiêu diệt. Rồi sẽ được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.

5. Bệnh chấp Lý bỏ Sự

Đại sư Ấn Quang dạy: ”Tai hoạ chung của người đời nay là bệnh chấp Lý bỏ Sự”. Thời đại mạt pháp, căn tánh chúng sinh phần nhiều ngu muội, nên người học Phật không nên tham cầu viển vông. Cần ở trên sự việc mà thực hành công phu, chính là trên sự hành trì thực tiễn của chính mình mà công phu. Không như thế, dẫu quán thông Tam tạng, hiểu rộng kinh luận đi nữa, đối với chính mình trọn không có lợi ích, chỉ thành đạt ở phần học vấn mà thôi.

6. Sống chuyển thành chín, chín chuyển thành sống

Người hành trì pháp môn niệm Phật cần phải thực hành hai nguyên tắc lớn “chỗ sống chuyển thành chín, chỗ chín chuyển thành sống”, nghĩa là phải đem một câu Nam mô A-di-đà Phật niệm cho thật nhiều. Luôn thúc dục chính mình trong bốn oai nghi đi đứng, nằm ngồi; luôn để khởi một câu phật hiệu. Lâu ngày dài tháng niệm thành thói quen tốt niệm Phật. Đến phút lâm chung rất quan trọng, Phật hiệu tự nhiên liền có thể đề khởi lên được, lúc này nguyện vãng sinh đã có phần nắm chắc trong tay.

7. Như người gần hương thân có mùi hương

Chúng ta từ vô thuỷ kiếp đến nay có thói quen xấu tham, sân, si rất nặng. Chúng ta say mê và chìm đắm quá sâu trong ngũ dục trần gian vô minh quên che phủ. Sau khi học Phật có sự giác ngộ rồi, nên xa lìa tửu, sắc, tài, khí, tiếng tăm mà vì thói quen nên chúng ta coi là thường. Cần gần gũi thiện tri thức, xa lìa bạn ác. Nên gần gũi với môi trường tốt, lánh xa những chuyện xấu. Lâu ngày sẽ đúng như kinh Lăng Nghiêm dạy: “Như người nhiễm hương, thân có mùi hương”. Tự nhiên nơi chỗ không tự giác sẽ được cảm hoá và trong sạch tự tánh, sẽ từng bước đi đến giải thoát.

8. Giáo dục từ gia đình

Xã hội ngày nay luôn loạn động chẳng bao giờ bình an, mọi vấn đề giải quyết cần phải khéo léo và bắt đầu từ sự giáo dục ở gia đình. Người làm cha, làm mẹ phải kiểm thảo chính mình khi làm gương và dạy bảo con cái có đúng đắn và hợp với nó hay không. Ví như khi thấy con cái thích đập chết con muỗi, con dán hay hành hạ các con vật nhỏ, làm cha mẹ phải dùng đạo lý từ bi không sát hại dạy bảo con cái về nhân quả báo ứng và chúng sinh bình đẳng. Nếu bậc cha mẹ đều có thể dạy bảo con cái tại gia đình lấy thân làm phép tắc, tuỳ lúc sửa đổi hành vi sai trái của con cái mà còn dạy bảo nó hiểu được chân lý nhân quả báo ứng thì khi con cái trưởng thành, nó sẽ trở thành những người lương thiện.

9. Xả - được

Trong tâm Kinh, Bồ-tát Quán Tự Tại dạy chúng ta rằng: ”Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp” chính là dạy chúng ta phải xả. Xả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, xả bỏ sáu căn truy cầu; xả sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp. Có xả bỏ mới có được. Xả một phần được một phần thọ dụng, xả mười phần được mười phần thọ dụng.

10. Phương pháp xả

Phương pháp xả trong kinh nói rất nhiều. Đặc biệt trong Lăng Nghiêm, chương Bồ-tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông có dạy: ”Thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Dùng vạn đức hồng danh một câu Thánh niệm Nam mô A-di-đà Phật buộc chặt nơi sáu căn, đem danh hiệu Phật làm “bổn mạng nguyên thần” của chúng ta. Từ thuỷ đến chung, từ sáng đến tối không lìa câu Phật hiệu. Trong quá trình trì danh hiệu Phật, xả bỏ các duyên của sáu căn, xả bỏ sự tiêm nhiễm của sáu trần. Nương tựa vào nguyện lực đại từ, đại bi của Phật A-di-đà để thành tựu hạnh nguyện vãng sinh Cực Lạc, giải thoát luân hồi và chứng quả thành Phật.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2017(Xem: 29443)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
30/11/2017(Xem: 10831)
Định nghĩa. Vô Trước. Vô, nghĩa là không. Trước, nghĩa là dính mắc, bị dính vào, mắc vào, kẹt vào. Cụm từ Vô Trước, nói cho đủ: Không bị dính mắc, kẹt vào. Danh từ kép này, được chỉ cho những hành giả trong đạo phật trên đường tu tập, để tìm cầu cho mình cơn đường giải thoát là không để cái Tâm bị dính vào, mắc vào, kẹt vào sắc trần, nói như pháp môn thiền định “đối cảnh vô tâm. Như vậy, tâm con người thường bị dính trần hay sao, mà pháp thiền phải cảnh giác ? Đúng như vậy, tâm của kẻ phàm phu ưa dính, mắc vào, kẹt vào sắc trần vật chất, ưa trách móc, ưa chấp nê, ưa nghe lời khen ngợi
21/11/2017(Xem: 18359)
Từ Kinh Phật Sơ Thời Đến Thiền Đốn Ngộ Giới Thiệu Tác Phẩm “Thiền Tông Qua Bờ Kia” Của Cư Sĩ Nguyên Giác--Trong tác phẩm mới xuất bản “Thiền Tông Qua Bờ Kia” tác giả Cư Sĩ Nguyên Giác kể chuyện buổi đầu ông học Thiền với Hòa Thượng Bổn Sư Thích Tịch Chiếu ở Chùa Tây Tạng tại Tỉnh Bình Dương, Việt Nam như sau: “Tôi nhớ lại buổi đầu gặp Hòa Thượng Tịch Chiếu, hỏi Thầy rằng con nên tập Thiền thế nào, Thầy nói rằng, “Phải Thấy Tánh đã.” Lúc đó, Thầy bảo đứa em kế tôi phải niệm Phật sáng trưa chiều tối, và quay sang đứa em gái kế sau nữa của tôi, bảo nhỏ này là con hãy về đọc bài Bát Nhã Tâm Kinh tối ngày sáng đêm. Tôi hỏi, rồi con cần niệm hay đọc gì hay không, Thầy đáp, con không có một pháp nào hết.”[1]
19/11/2017(Xem: 8475)
Chris Impey là Phó Khoa Trưởng của Đại Học Khoa Học, và là một Giáo Sư Xuất Chúng của Khoa Thiên Văn Học thuộc Đại học Arizona (Hoa Kỳ). Công trình nghiên cứu của ông đặt trọng tâm vào việc phát triển và cung cấp năng lượng của những lỗ đen khổng lồ trong các thiên hà.Ông đã viết hai cuốn sách giáo khoa, một tiểu thuyết, tám cuốn sách khoa học phổ thông, và hơn 250 bài nghiên cứu và bài báo.Khiêm Tốn TrướcHư Không(Humble Before the Void ), một cuốn sách dựa trên những khóa hội thảo được mô tả trong bài báo này, do Templeton Press xuất bản năm 2014
01/11/2017(Xem: 16192)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng
25/08/2017(Xem: 28761)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
21/06/2017(Xem: 10665)
* Trong vũ trụ có trùng trùng thế giới. Toàn Giác là bậc câu thông cùng vũ trụ, họ cùng một thể tánh với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ rồi “truyền thần” lại sự thấy biết đó. Để thấy rằng Đức Bổn sư không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn sống động từ vô thỉ dù Phật có ra đời hay không.
16/03/2017(Xem: 12745)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
13/03/2017(Xem: 9981)
Chữ NHƯ được thông dụng rất phổ biến trong văn chương và lời nói thường nghiệm của các dân tộc trên thế giới và trong Phật Giáo . Trong văn chương, chữ Như được thấy ở một số trường hợp : Xác định, phủ định, tương tợ, không thực…(như ảo, như hóa) đối với các vật thể hiện thực.
01/02/2017(Xem: 8128)
Một số tư tưởng Phật học sau đây cùng nói lên nghĩa của Ý Giáo : Ý tưởng mong muốn đem giáo Pháp giải thoát của Phật ra, giảng dạy cho mọi người được biết mà tu tập. Tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa Phật pháp. Tự mình làm thầy lấy mình để sửa tâm. Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hành giả vào đạo Phật để tìm con đường giải thoát