05. Đại ý kinh Vu Lan

11/01/201115:23(Xem: 8506)
05. Đại ý kinh Vu Lan

THC BIN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

ĐẠI Ý KINH VU LAN

CÁCHBÁO HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT

Công ơn nuôi dưỡng cha mẹ thật nhưtrời cao biển rộng khó nghĩ tận cùng. Đạo Nho đã nói: "Công ơn cha mẹ trờicao khó kịp". Kẻ làm con dĩ nhiên phải nghĩ đến cách báo đáp công ơn sanhthành của cha mẹ, vì đây là một bổn phận cao quý trong đạo làm người; bất luậnthời nào hoặc phương sở nào cũng không thể xao lãng đi được.

Nếu có người nương nhờ ơn cha mẹ màđến ngày công thành danh toại, lại chỉ biết có một mình mình chứ không đoáihoài gì đến cha mẹ, xem cha mẹ như người khách lạ qua đường... Nếu có người connhư thế dĩ nhiên gọi là người con bất hiếu, đã trốn tránh bổn phận thiêng liêngvậy.

Song sự báo ơn cha mẹ có rất nhiềucách, nó không thể giống nhau theo một quy tắc, thể thức nhất định làm cho chamẹ nhẹ bớt thống khổ, tăng thêm vui lành... Có người báo ơn cha mẹ bằng cáchlàm cho cha mẹ an hưởng thứ vui tinh thần khoan khóai hoặc hưởng cái vui ngắnngủi, vui lâu dài, vui nặng nề hay vui siêu thoát. Tóm lại, đàng nào cũng gọilà hiếu, đàng nào cũng tìm cách đem lại sự an vui cho cha mẹ, nhưng xét kỹ thìchỉ có cách đem lại cho cha mẹ sự an vui siêu thoát đời đời mới thật hoàn toànđạt thấu mục đích báo hiếu mà thôi.

Kinh Vu Lan Bồn chính là một kinhPhật dạy chúng ta cách báo hiếu ấy, báo hiếu chính đáng, cứu độ viên mãn để cáctiền nhân nhẹ gánh oan khiên, lần thoát vòng luân hồi đau khổ. Chúng ta khôngthể không hiểu qua đại ý của kinh trong khi chúng ta muốn tìm một phương phápchơn chán để báo bổ thâm ân.

Trong kinh Vu Lan, Phật dạy chochúng ta rõ:

1. Có nhân thì có quả

Nhân quả là một định luật hiển nhiênkhông thể nào sai chạy được. Ở nơi hoàn cảnh cũng như ở nơi thân tâm, hễ đã gâynhân gì thì tất nhiên có quả báo nấy để thù đáp lại, tuy vô hình nhưng rất bìnhđẳng, không bao giờ gây nhân lành mà phải chịu quả báo khổ, cũng không bao giờgây nhân dữ mà được hưởng quả báo vui. Bởi vậy, bà mẹ Tôn giả Mục-kiên-liên saukhi đã sanh tâm tham lam bỏn xẻn mà gây nghiệp nhân không tốt đến lâm chungphải chịu quả báo đoạ đày trong đường ngạ quỷ, đói khát ốm gầy, đến nỗi gặpđặng bát cơm của Tôn giả Mục-kiền-liên dâng cúng, nhưng vì nghiệp tham của bàquá nặng mà cơm kia bỗng biến thành lửa đỏ cháy hừng không thể nào ăn được.

2. Nhân quả đều do tâm

Tuy vậy nhưng không phải: "mộtkiếp lỗi lầm là muôn đời đau khổ". Trong kinh có dạy: "Tâm năng sanhnhứt thiết pháp", vậy biết rằng tất cả pháp đều do tâm. Tâm tạo nên nghiệplành, hiện thành cảnh giới chư Thiên tốt đẹp, tâm tạo nên nghiệp dữ hiện thànhcảnh giới địa ngục xấu xa, tâm tu theo đạo Bồ-đề, gây nhân giải thoát thì đượctự tại yên vui ngoài vòng luân hồi sanh tử, vậy nên mặc dù chúng sinh ở tronghoàn cảnh tuy khổ cực cũng có thể hoán cải tâm niệm mình theo con đường chánhđáng tốt lành. Khi tâm đã tốt thì cảnh giới cũng tùy tâm mà trở nên vui đẹp. Cứxét ngay nơi tâm niệm hiện tại của chúng ta thấy rõ. Khi tâm ta nghi ngờ độc ácthì cảnh vật nào cũng là cảnh vật khả ố xấu xa. Khi tâm ta hiền rộng rãi thìcảnh vật nào cũng đẹp đẽ vui tươi. Địa ngục thiên đàng nào phải ở đâu xa lạ!

Do lẽ đó mà bà mẹ Tôn giảMuc-kiền-liên tuy đã sanh vào ngạ quỷ cũng có thể chuyển đổi tâm niệm nghiệpnhân, đặng giải thoát khỏi chỗ tối tăm cực khổ.

3. Hiệu lực của chú nguyện

Chúng ta đã biết địa ngục, thiênđàng cũng chỉ tự mình tạo ra và chịu lấy, kẻ làm con nếu muốn cho cha mẹ mìnhkhỏi lâm vào cảnh tương lai đau khổ, thì không chi bằng cố gắng làm cho cha mẹbỏ ác làm lành, cải tà quy chánh dù cho cha mẹ đã qua đời cũng có cách báo đáphoàn toàn được.

Phật dạy tất cả sự vật trùng trùngduyên nhau mà phát hiệ,n nên tâm niệm của chúng ta cũng trùng khắp và duyêncùng cả vũ trụ không khác nào một làn sóng nhỏ cũng lan khắp cả đại dương, nhưánh sáng của vì sao cũng chiếu cùng quả đất. Bởi vậy, tiền nhân xa cách đến đâuchúng ta cũng có thể đem tâm niệm đại hiếu, tu hành mà cảm thông và thaychuyển. Chỉ sợ rằng sức tu hành của chúng ta kém cỏi, định lực không bao nhiêu,tợ hồ như ánh sáng của một vì sao nhỏ, làm sao thay đổi cho một cảnh vật càngthêm tươi sáng?! Chúng ta không thể không nhờ đến định lực của nhiều vị tu hànhtinh tấn, chú nguyện cho mới mong thay đổi dễ dàng thân tâm cùng cảnh giới nơimỗi người. Các vị tu hành tinh tấn ấy phần nhiều là chúng Tăng chuyên tu trongba tháng hạ.

Xưa kia Tôn giả Mục-kiền-liên tuy tuhành chứng đến lục thông, nhưng với đạo lực một mình vẫn không sao cứu vớt từmẫu, đã phải nhờ đến sức chú nguyện của mười phương Tăng trong ngày Tự tứ mà mẹcủa Tôn giả liền thoát khỏi vòng ngạ quỷ, hóa sanh cảnh giới chư Thiên an lạc.

*

Ngày nay, chúng ta nếu muốn báo hiếuđối với tiền nhân một cách viên mãn, trước hết chúng ta nên tin tưởng vào bađiều đã lược nói ở trên. Chúng ta tin rằng cảnh khổ vui đều do tâm niệm và tâmniệm có thể thay đổi, xấu trở nên tốt một cách dễ dàng, khi nhờ có sức chú tâmcủa nhiều vị tu hành có định lực. Chúng ta cũng thường thấy các nhà thôi miênhọc chỉ gia công tập luyện và tập trung tư tưởng đôi phần mà họ có thể sai sửkẻ đối phương hành động theo ý chí của họ. Nếu với các bậc tu hành, có một tâmhồn thanh tịnh, có định lực mạnh mẽ thì chắc hiệu lực sẽ tăng lên bội phần, vàvới các đấng Giác ngộ thì không thể nào tính lường được.

Chúng ta tin tưởng như thế và chítâm bố thí cúng dường Tam Bảo, chúng Tăng, làm việc hiếu nghĩa trong ngày Tăngtự tứ (rằm tháng bảy) để cầu mong được mục đích báo hiếu hoàn toàn của kẻ biếtlàm con.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 26698)
Theo truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy thì Tạng Vi Diệu Pháp (A tỳ Ðàm) được Ðức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Ðạo lợi (Tàvatimsa) với tác ý trả hiếu cho thân mẫu.
08/04/2013(Xem: 19835)
Bản dịch quyển "The Buddha and His Teachings -- Đức Phật và Phật Pháp" được tu chỉnh và bổ túc lần thứ ba theo bản Anh ngữ cuối cùng của Ngài Narada, xuất bản ...
08/04/2013(Xem: 18268)
Một Tôn Giáo Hiện Đại (nguyên tác Anh ngữ: "What is this Religion? - Tôn giáo này là gì ?", ấn hành tại Đài Loan vào năm 1992), là một trong mấy mươi tác phẩm...
04/04/2013(Xem: 5731)
Khổ khổ là một trong tam khổ [1]luôn xảy ra trong cõi Ta Bà này. Khổ là sự bất an, sự đau đớn, sự thống thiết, sự kêu gào, sự chịu đựng, sự bấn loạn, sự cay điếng, sự tan nát, sự chấn động, sự đả thương …
01/04/2013(Xem: 11652)
Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các người chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta ...
01/04/2013(Xem: 11208)
Bài pháp này đã được Đức Phật thuyết cho ẩn sĩ Subhadda ngay vào lúc sắp viên tịch Níp Bàn giữa hai cây Sàlà (vườn Ingyin) gần thành Kusinãra, xin trích đoạn sau ...
01/04/2013(Xem: 9578)
Nhiều người cho rằng đức tin và trí tuệ trong thiền quán (vipassanà) đối nghịch nhau, mâu thuẫn và không thể phối hợp. Không phải vậy! chúng thân hữu và là hai nội lực quan trọng. Trong thông tin vừa rồi, tôi đã viết về những điểm đặc thù và khác biệt giữa các hành giả châu Aù và phương Tây.
01/03/2013(Xem: 9409)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo, làm căn bản cho bộ Duy thức luận của Vasubandhu. Học thuyết Duy tâm được biểu hiện trong các câu quen thuộc, thường được trích dẫn trong kinh Lăng Già, chỗ nào cũng là tâm cả (nhất thiết xứ giai tâm), tất cả hình tướng đều do tâm khởi lên (chúng sắc do tâm khởi), ngoài tâm không có cái gì được trông thấy (tâm ngoại vô sở kiến), thế gian chỉ là tâm (tam giới duy thị tự tâm), ba cõi do tâm sinh (tam giới do tâm sinh) v.v..
19/02/2013(Xem: 8237)
Một câu hỏi lớn nằm dưới kinh nghiệm của chúng ta, dù chúng ta nghĩ về nó một cách ý thức hay không: mục đích của cuộc sống là gì? Tôi đã cân nhắc câu hỏi này và muốn chia sẻ những suy nghĩ của mình với hy vọng rằng chúng có thể có lợi ích trực tiếp và thực tế đối với những ai suy nghĩ về chúng.
02/01/2013(Xem: 2149)
Giáo dục Phật giáo không dính dáng gì đến đức tin, cầu nguyện hay nghi lễ mang ý nghĩa tôn giáo. Nó cũng không phải là một hệ thống triết thuyết mang tính giáo điều, răn đe, mà là một con đường dẫn đến nếp sống an lạc, hạnh phúc, hoàn toàn giải thoát nhờ vào sự hoàn thiện đạo đức, tri thức và tâm linh.